佛說無量壽經, 曹魏康僧鎧譯
Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh, Tào Ngụy Khang Tăng Khải dịch
Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh, Tào Ngụy Khang Tăng Khải dịch
Trích từ Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh Giảng Ký của Trưởng lão Đạo Nguyên
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
(theo bản điện tử của Đài Trung Liên Xã)
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

***************


Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh Thượng Quyển
佛說無量壽經上卷
Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh Quyển Thượng

***************


我聞如是。
Ngã văn như thị.
Tôi nghe như thế này.

一時,佛住王舍城,耆闍崛山中。
Nhất thời, Phật trụ Vương Xá thành, Kỳ Xà Quật sơn trung.
Một thời, đức Phật ở thành Vương Xá, ngự trong núi Kỳ Xà Quật.

與大比丘眾。
Dữ đại tỳ-kheo chúng.
Cùng các vị đại tỳ-kheo.

萬二千人俱。
Vạn nhị thiên nhân câu.
Một vạn hai ngàn người nhóm họp.

一切大聖,神通已達。
Nhất thiết đại thánh, thần thông dĩ đạt.
Hết thảy đại thánh, thần thông đã đạt.

其名曰:尊者了本際、尊者正願、尊者正語、尊者大號、尊者仁賢、尊者離垢、尊者名聞、尊者善實、尊者具足、尊者牛王、尊者優樓頻螺迦葉、尊者伽耶迦葉、尊者那提迦葉、尊者摩訶迦葉、尊者舍利弗、尊者大目犍連、尊者劫賓那、尊者大住、尊者大淨志、尊者摩訶周那、尊者滿願子、尊者離障、尊者流灌、尊者堅伏、尊者面王、尊者異乘、尊者仁性、尊者嘉樂、尊者善來、尊者羅云、尊者阿難,皆如斯等上首者也。
Kỳ danh viết: Tôn giả Liễu Bổn Tế, tôn giả Chánh Nguyện, tôn giả Chánh Ngữ, tôn giả Đại Hiệu, tôn giả Nhân Hiền, tôn giả Ly Cấu, tôn giả Danh Văn, tôn giả Thiện Thật, tôn giả Cụ Túc, tôn giả Ngưu Vương, tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tôn giả Già Da Ca Diếp, tôn giả Na Đề Ca Diếp, tôn giả Ma Ha Ca Diếp, tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Đại Mục Kiền Liên, tôn giả Kiếp Tân Na, tôn giả Đại Trụ, tôn giả Đại Tịnh Chí, tôn giả Ma Ha Châu Na, tôn giả Mãn Nguyện Tử, tôn giả Ly Chướng, tôn giả Lưu Quán, tôn giả Kiên Phục, tôn giả Diện Vương, tôn giả Dị Thừa, tôn giả Nhân Tánh, tôn giả Gia Lạc, tôn giả Thiện Lai, tôn giả La Vân, tôn giả A Nan, giai như tư đẳng thượng thủ giả dã.
Tên các Ngài là tôn giả Liễu Bổn Tế, tôn giả Chánh Nguyện, tôn giả Chánh Ngữ, tôn giả Đại Hiệu, tôn giả Nhân Hiền, tôn giả Ly Cấu, tôn giả Danh Văn, tôn giả Thiện Thật, tôn giả Cụ Túc, tôn giả Ngưu Vương, tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tôn giả Già Da Ca Diếp, tôn giả Na Đề Ca Diếp, tôn giả Ma Ha Ca Diếp, tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Đại Mục Kiền Liên, tôn giả Kiếp Tân Na, tôn giả Đại Trụ, tôn giả Đại Tịnh Chí, tôn giả Ma Ha Châu Na, tôn giả Mãn Nguyện Tử, tôn giả Ly Chướng, tôn giả Lưu Quán, tôn giả Kiên Phục, tôn giả Diện Vương, tôn giả Dị Thừa, tôn giả Nhân Tánh, tôn giả Gia Lạc, tôn giả Thiện Lai, tôn giả La Vân, tôn giả A Nan, đều là các bậc thượng thủ như vậy.

又與大乘眾菩薩俱。
Hựu dữ Đại Thừa chúng Bồ Tát câu.
Lại cùng với chúng Đại Thừa Bồ Tát nhóm họp.

普賢菩薩、妙德菩薩、慈氏菩薩等,此賢劫中一切菩薩,又賢護等十六正士,善思議菩薩、信慧菩薩、空無菩薩、神通華菩薩、光英菩薩、慧上菩薩、智幢菩薩、寂根菩薩、願慧菩薩、香象菩薩、寶英菩薩、中住菩薩、制行菩薩、解脫菩薩,皆遵普賢大士之德。
Phổ Hiền Bồ Tát, Diệu Đức Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát đẳng, thử Hiền Kiếp trung nhất thiết Bồ Tát. Hựu Hiền Hộ đẳng thập lục Chánh Sĩ, Thiện Tư Nghị Bồ Tát, Tín Huệ Bồ Tát, Không Vô Bồ Tát, Thần Thông Hoa Bồ Tát, Quang Anh Bồ Tát, Huệ Thượng Bồ Tát, Trí Tràng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Nguyện Huệ Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bảo Anh Bồ Tát, Trung Trụ Bồ Tát, Chế Hạnh Bồ Tát, Giải Thoát Bồ Tát, giai tuân Phổ Hiền đại sĩ chi đức.
Phổ Hiền Bồ Tát, Diệu Đức Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát v.v… là hết thảy các vị Bồ Tát trong Hiền Kiếp này. Lại có mười sáu vị Chánh Sĩ thuộc nhóm Hiền Hộ, tức Thiện Tư Nghị Bồ Tát, Tín Huệ Bồ Tát, Không Vô Bồ Tát, Thần Thông Hoa Bồ Tát, Quang Anh Bồ Tát, Huệ Thượng Bồ Tát, Trí Tràng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Nguyện Huệ Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bảo Anh Bồ Tát, Trung Trụ Bồ Tát, Chế Hạnh Bồ Tát, Giải Thoát Bồ Tát, đều tuân theo phẩm đức của Phổ Hiền đại sĩ.

具諸菩薩無量行願,安住一切功德之法。遊步十方,行權方便。
Cụ chư Bồ Tát vô lượng hạnh nguyện, an trụ nhất thiết công đức chi pháp, du bộ thập phương, hành quyền phương tiện.
Trọn đủ vô lượng hạnh nguyện của các vị Bồ Tát, an trụ trong hết thảy các pháp công đức, du hóa mười phương, thực hiện phương tiện quyền biến.

入佛法藏,究竟彼岸。
Nhập Phật pháp tạng, cứu cánh bỉ ngạn.
Vào pháp tạng của Phật, rốt ráo đến bờ kia.

於無量世界,現成等覺。
Ư vô lượng thế giới, hiện thành Đẳng Giác.
Trong vô lượng thế giới, hiện thành Đẳng Giác.

處兜術天,弘宣正法。
Xử Đâu Thuật Thiên, hoằng tuyên chánh pháp.
Ở trên trời Đâu Thuật, hoằng dương, tuyên thuyết chánh pháp.

捨彼天宮,降神母胎。
Xả bỉ thiên cung, giáng thần mẫu thai.
Bỏ cung trời ấy, giáng hạ thần thức vào thai mẹ.

從右脅生,現行七步。光明顯耀,普照十方。無量佛土,六種震動。舉聲自稱:吾當於世,為無上尊。釋梵奉侍,天人歸仰。
Tùng hữu hiếp sanh, hiện hành thất bộ, quang minh hiển diệu, phổ chiếu thập phương, vô lượng Phật độ, lục chủng chấn động. Cử thanh tự xưng: “Ngô đương ư thế, vi vô thượng tôn”. Thích Phạm phụng thị, thiên nhân quy ngưỡng.
Sanh từ hông phải, hiện đi bảy bước, quang minh chói ngời, chiếu khắp mười phương. Vô lượng cõi Phật sáu thứ chấn động. Cất tiếng tự xưng: “Ta trong cõi đời, là đấng vô thượng”. Đế Thích, Phạm vương hầu hạ, trời người hướng về chiêm ngưỡng.

示現算計,文藝射御,博綜道術,貫練羣籍。
Thị hiện toán kế, văn nghệ xạ ngự, bác tổng đạo thuật, quán luyện quần tịch.
Thị hiện tính toán, văn nghệ, bắn cung, điều khiển xe, thông thạo rộng khắp các đạo thuật, xem rành, ôn luyện các sách vở.

遊於後園,講武試藝。現處宮中,色味之間。
Du ư hậu viên, giảng võ, thí nghệ. Hiện xử cung trung, sắc vị chi gian.
Dạo chơi vườn sau, giảng võ, đua tài, hiện ở trong cung, trong chốn sắc vị.

見老病死,悟世非常。棄國財位,入山學道。服乘白馬,寶冠瓔珞,遣之令還。捨珍妙衣,而著法服。剃除鬚髮,端坐樹下,勤苦六年,行如所應。
Kiến lão bệnh tử, ngộ thế phi thường. Khí quốc tài vị, nhập sơn học đạo. Phục thừa bạch mã, bảo quan anh lạc, khiển chi linh hoàn. Xả trân diệu y, nhi trước pháp phục. Thế trừ tu phát, đoan tọa thụ hạ, cần khổ lục niên, hành như sở ưng.
Thấy già, bệnh, chết, ngộ cõi đời chẳng thường hằng, bỏ nước, của cải, địa vị, vào núi học đạo, cỡi con ngựa trắng, mão báu, chuỗi ngọc, sai đem trở về, bỏ áo quý đẹp, để mặc pháp phục. Cạo bỏ râu tóc, ngồi ngay ngắn dưới gốc cây, siêng khổ sáu năm, hành pháp nên hành.

現五濁剎,隨順群生。示有塵垢,沐浴金流。天按樹枝,得攀出池。
Hiện ngũ trược sát, tùy thuận quần sanh, thị hữu trần cấu, mộc dục kim lưu, thiên án thụ chi, đắc phan xuất trì.
Thị hiện trong cõi ngũ trược, tùy thuận các chúng sanh, thị hiện [thân thể] có bụi bặm, dơ bẩn, tắm gội nơi dòng nước vàng, trời đè nhánh cây, để Ngài nắm lấy ra khỏi nước.

靈禽翼從,往詣道場。
Linh cầm dực tùng, vãng nghệ đạo tràng.
Chim thiêng chầu hầu, đi đến đạo tràng.

吉祥感徵,表章功祚。哀受施草,敷佛樹下,跏趺而坐。
Cát Tường cảm trưng, biểu chương công tộ. Ai thọ thí thảo, phu Phật thụ hạ, già phu nhi tọa.
Trưởng giả Cát Tường được cảm vời [Phật] sẽ biểu hiện rành rành công phu và phước báo, bèn khẩn khoản xin Phật tiếp nhận cỏ cúng thí, trải dưới cội cây của Phật, để Ngài ngồi xếp bằng.

奮大光明,使魔知之。魔率官屬,而來逼試。制以智力,皆令降伏。
Phấn đại quang minh, sử ma tri chi. Ma suất quan thuộc, nhi lai bức thí, chế dĩ trí lực, giai linh hàng phục.
Tỏa rực quang minh lớn, khiến cho ma biết. Ma suất lãnh bầy tôi, quyến thuộc đến bức bách, thử thách. Ngài dùng trí lực chế ngự, khiến chúng đều hàng phục.

得微妙法,成最正覺。
Đắc vi diệu pháp, thành tối Chánh Giác.
Đắc pháp vi diệu, thành Chánh Giác cao tột.

釋梵祈勸,請轉法輪。
Thích Phạm kỳ khuyến, thỉnh chuyển pháp luân.
Đế Thích, Phạm Vương cầu xin, khuyên lơn, xin đức Phật chuyển pháp luân.

以佛遊步,佛吼而吼。扣法鼓,吹法螺,執法劍,建法幢;震法雷,曜法電,澍法雨,演法施。常以法音,覺諸世間。
Dĩ Phật du bộ, Phật hống nhi hống, khấu pháp cổ, xuy pháp loa, chấp pháp kiếm, kiến pháp tràng; chấn pháp lôi, diệu pháp điện, chú pháp vũ, diễn pháp thí, thường dĩ pháp âm, giác chư thế gian.
Dùng các oai nghi của Phật, diễn nói như Phật, đánh trống pháp, thổi ốc pháp, cầm gươm pháp, dựng tràng pháp; rền sấm pháp, xẹt chớp pháp, xối mưa pháp, diễn pháp thí, thường dùng các pháp âm để giác ngộ thế gian.

光明普照無量佛土。一切世界,六種震動。總攝魔界,動魔宮殿。眾魔慴怖,莫不歸伏。
Quang minh phổ chiếu vô lượng Phật độ. Nhất thiết thế giới lục chủng chấn động, tổng nhiếp ma giới, động ma cung điện. Chúng ma triệp bố, mạc bất quy phục.
Quang minh chiếu trọn khắp vô lượng cõi Phật. Hết thảy các thế giới sáu thứ chấn động, nhiếp trọn ma giới, lay động cung điện ma. Các ma kinh hoảng, không ai chẳng quy phục.

摑裂邪網,消滅諸見。散諸塵勞,壞諸欲壍。嚴護法城,開闡法門。洗濯垢汙,顯明清白。光融佛法,宣流正化。
Quặc liệt tà võng, tiêu diệt chư kiến, tán chư trần lao, hoại chư dục tiệm, nghiêm hộ pháp thành, khai xiển pháp môn, tẩy trạc cấu ô, hiển minh thanh bạch, quang dung Phật pháp, tuyên lưu chánh hóa.
Xé rách lưới tà, tiêu diệt các kiến, phá tan các trần lao, hủy hoại các hào dục, giữ nghiêm ngặt pháp thành, mở mang, xiển dương pháp môn, gột rửa nhơ bẩn, sáng sủa thanh bạch, dung hội rạng ngời Phật pháp, tuyên lưu sự giáo hóa chánh đáng.

入國分衛,獲諸豐膳。貯功德,示福田。
Nhập quốc phân vệ, hoạch chư phong thiện. Trữ công đức, thị phước điền.
Vào quốc thành khất thực, đạt được các thức ăn phong phú, chất chứa công đức, chỉ bày phước điền.

欲宣法,現欣笑。以諸法藥,救療三苦。顯現道意,無量功德。授菩薩記,成等正覺。
Dục tuyên pháp, hiện hân tiếu, dĩ chư pháp dược, cứu liệu tam khổ, hiển hiện đạo ý, vô lượng công đức, thọ Bồ Tát ký, thành Đẳng Chánh Giác.
Muốn tuyên nói pháp, hiện vẻ tươi cười, dùng các pháp dược cứu chữa ba khổ, hiển hiện đạo ý, vô lượng công đức, thọ ký cho hàng Bồ Tát thành Đẳng Chánh Giác.

示現滅度,拯濟無極。消除諸漏,植眾德本。
Thị hiện diệt độ, chửng tế vô cực, tiêu trừ chư lậu, thực chúng đức bổn.
Thị hiện diệt độ, cứu vớt vô cực, tiêu trừ các lậu, trồng các cội đức.

具足功德,微妙難量。遊諸佛國,普現道教。
Cụ túc công đức, vi diệu nan lượng. Du chư Phật quốc, phổ hiện đạo giáo.
Đầy đủ công đức, vi diệu khó lường. Dạo các cõi Phật, hiện trọn khắp giáo pháp của Phật đạo.

其所修行,清淨無穢。譬如幻師,現眾異像。為男為女,無所不變。本學明了,在意所為。此諸菩薩,亦復如是。學一切法,貫綜縷練。所住安諦,靡不感化。無數佛土,皆悉普現。未曾慢恣,愍傷眾生。如是之法,一切具足。
Kỳ sở tu hành, thanh tịnh vô uế. Thí như huyễn sư, hiện chúng dị tượng, vi nam, vi nữ, vô sở bất biến. Bổn học minh liễu, tại ý sở vi. Thử chư Bồ Tát, diệc phục như thị, học nhất thiết pháp, quán tổng lũ luyện, sở trụ an đế, mị bất cảm hóa. Vô số Phật độ, giai tất phổ hiện. Vị tằng mạn tứ, mẫn thương chúng sanh. Như thị chi pháp, nhất thiết cụ túc.
Sự tu hành của các Ngài thanh tịnh, chẳng nhơ. Ví như nhà huyễn thuật hiện ra các hình tượng lạ lùng, hiện nam, hiện nữ, không gì chẳng biến hóa, do hiểu rõ điều mình đã học, tùy ý thực hiện. Các vị Bồ Tát này cũng giống như vậy, học hết thảy các pháp, thông suốt, luyện tập tỉ mỉ, trụ an định, vững chắc [trong Phật pháp], không ai chẳng bị cảm hóa. Trong vô số cõi Phật, thảy đều hiện khắp, chưa hề khinh mạn, phóng túng, thương xót chúng sanh. Các pháp như thế hết thảy đều đầy đủ.

菩薩經典,究暢要妙。名稱普至,道御十方。
Bồ Tát kinh điển, cứu sướng yếu diệu. Danh xưng phổ chí, đạo ngự thập phương.
Thấu suốt tột cùng những điều trọng yếu huyền diệu trong kinh điển của Bồ Tát, tiếng tăm vang khắp, dẫn dắt, điều ngự mười phương.

無量諸佛,咸共護念。佛所住者,皆已得住。大聖所立,而皆已立。如來道化,各能宣布。為諸菩薩,而作大師。以甚深禪慧,開導眾生。通諸法性,達眾生相。明了諸國。
Vô lượng chư Phật, hàm cộng hộ niệm. Phật sở trụ giả, giai dĩ đắc trụ. Đại thánh sở lập, nhi giai dĩ lập. Như Lai đạo hóa, các năng tuyên bố. Vị chư Bồ Tát, nhi tác đại sư. Dĩ thậm thâm Thiền Huệ, khai đạo chúng sanh, thông chư pháp tánh, đạt chúng sanh tướng, minh liễu chư quốc.
Vô lượng chư Phật đều cùng hộ niệm. Chỗ Phật đã trụ, thảy đều đã được trụ. Pháp do đại thánh đã lập, thảy đều đã lập. Như Lai đạo hóa, đều có thể tuyên bố. Vì các vị Bồ Tát mà làm bậc đại sư. Dùng Thiền Huệ rất sâu, khơi gợi, hướng dẫn chúng sanh thông suốt tánh của các pháp, thấu đạt tướng của chúng sanh, hiểu rõ các cõi Phật.

供養諸佛。化現其身,猶如電光。善學無畏之網,曉了幻化之法。
Cúng dường chư Phật, hóa hiện kỳ thân, do như điện quang, thiện học vô úy chi võng, hiểu liễu huyễn hóa chi pháp.
Cúng dường chư Phật, hóa hiện thân mình giống như tia chớp, khéo học lưới vô úy, hiểu rõ pháp huyễn hóa.

壞裂魔網,解諸纏縛。
Hoại liệt ma võng, giải chư triền phược.
Xé rách lưới ma, tháo gỡ các trói buộc.

超越聲聞、緣覺之地,得空無相無願三昧。
Siêu việt Thanh Văn, Duyên Giác chi địa, đắc Không, Vô Tướng, Vô Nguyện tam-muội.
Vượt trỗi các địa vị Thanh Văn và Duyên Giác, đạt được Không, Vô Tướng, Vô Nguyện tam-muội.

善立方便,顯示三乘。於此化終,而現滅度。
Thiện lập phương tiện, hiển thị tam thừa. Ư thử hóa chung, nhi hiện diệt độ.
Khéo lập phương tiện, hiển thị ba thừa. Sự giáo hóa ở nơi đây đã kết thúc, bèn hiện diệt độ.

亦無所作,亦無所有。不起不滅,得平等法。
Diệc vô sở tác, diệc vô sở hữu, bất khởi bất diệt, đắc bình đẳng pháp.
Cũng không có gì được làm, cũng chẳng sở hữu gì, chẳng dấy lên, chẳng diệt mất, đạt được pháp bình đẳng.

具足成就無量總持百千三昧。諸根智慧。
Cụ túc thành tựu vô lượng tổng trì bách thiên tam-muội, chư căn trí huệ.
Thành tựu đầy đủ vô lượng tổng trì, trăm ngàn tam-muội, các căn trí huệ.

廣普寂定,深入菩薩法藏。
Quảng phổ tịch định, thâm nhập Bồ Tát pháp tạng.
Thiền Định vắng lặng, rộng lớn, trọn khắp, thâm nhập pháp tạng của Bồ Tát.

得佛華嚴三昧。
Đắc Phật Hoa Nghiêm tam-muội.
Đạt được Hoa Nghiêm tam-muội của Phật.

宣揚演說一切經典。
Tuyên dương diễn thuyết nhất thiết kinh điển.
Tuyên dương, diễn nói hết thảy các kinh điển.

住深定門,悉覩現在無量諸佛。一念之頃,無不周徧。濟諸劇難,諸閑不閑。分別顯示真實之際,得諸如來辯才之智。入眾言音,開化一切。
Trụ thâm định môn, tất đổ hiện tại vô lượng chư Phật. Nhất niệm chi khoảnh, vô bất châu biến, tế chư kịch nạn, chư nhàn bất nhàn, phân biệt hiển thị chân thật chi tế, đắc chư Như Lai biện tài chi trí, nhập chúng ngôn âm, khai hóa nhất thiết.
Trụ trong định môn sâu xa, đều thấy vô lượng chư Phật trong hiện tại. Trong khoảng một niệm, không đâu chẳng trọn khắp, cứu giúp những kẻ nạn khổ dữ dội. Ở nơi thanh nhàn và chẳng thanh nhàn [trong nhân gian], phân biệt, hiển thị Chân Thật Tế, đạt được trí biện tài của các đức Như Lai, thông hiểu ngôn ngữ của muôn loài, khơi gợi, hóa độ hết thảy.

超過世間諸所有法,心常諦住度世之道。於一切萬物,而隨意自在。為諸庶類,作不請之友。荷負群生,為之重擔。
Siêu quá thế gian chư sở hữu pháp, tâm thường đế trụ độ thế chi đạo, ư nhất thiết vạn vật, nhi tùy ý tự tại. Vị chư thứ loại, tác bất thỉnh chi hữu, hà phụ quần sanh, vị chi trọng đảm.
Vượt trỗi các pháp vốn có trong thế gian, tâm thường trụ vững nơi đạo độ đời. Đối với hết thảy vạn vật, đều tùy ý tự tại. Vì các chủng loại hữu tình, làm bạn chẳng thỉnh. Vì các quần sanh, gánh vác gánh nặng.

受持如來甚深法藏,護佛種性,常使不絕。興大悲,愍眾生。演慈辯,授法眼。杜三趣,開善門。以不請之法,施諸黎庶。如純孝之子,愛敬父母。於諸眾生,視若自己。
Thọ trì Như Lai thậm thâm pháp tạng, hộ Phật chủng tánh, thường sử bất tuyệt, hưng đại bi, mẫn chúng sanh, diễn từ biện, thọ pháp nhãn, đỗ tam thú, khai thiện môn. Dĩ bất thỉnh chi pháp, thí chư lê thứ. Như thuần hiếu chi tử, ái kính phụ mẫu. Ư chư chúng sanh, thị nhược tự kỷ.
Thọ trì pháp tạng rất sâu của Như Lai, bảo vệ chủng tánh của Phật, thường khiến cho chẳng dứt, dấy lòng đại bi, thương xót chúng sanh, diễn từ biện, trao pháp nhãn, đóng chặt ba đường ác, mở cửa lành. Dùng pháp chẳng thỉnh thí cho muôn loài, như đứa con thuần hiếu yêu kính cha mẹ. Đối với các chúng sanh, xem như chính mình.

一切善本,皆度彼岸。悉獲諸佛無量功德。智慧聖明,不可思議。
Nhất thiết thiện bổn, giai độ bỉ ngạn, tất hoạch chư Phật vô lượng công đức, trí huệ thánh minh, bất khả tư nghị.
Hết thảy gốc lành đều vượt đến bờ kia, đều đạt được vô lượng công đức của chư Phật, trí huệ thánh minh chẳng thể nghĩ bàn.

如是之等菩薩大士,不可稱計,一時來會。
Như thị chi đẳng Bồ Tát đại sĩ, bất khả xưng kế, nhất thời lai hội.
Các vị Bồ Tát đại sĩ như thế đó, chẳng thể nói, đếm, đều cùng đến dự hội.

爾時世尊,諸根悅豫,姿色清淨,光顏巍巍。
Nhĩ thời Thế Tôn, chư căn duyệt dự, tư sắc thanh tịnh, quang nhan nguy nguy.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn các căn vui sướng, dáng vẻ thanh tịnh, dung nhan sáng ngời lồng lộng.

尊者阿難,承佛聖旨,即從座起,偏袒右肩,長跪合掌,而白佛言。
Tôn giả A Nan, thừa Phật thánh chỉ, tức tùng tòa khởi, thiên đản hữu kiên, trường quỵ, hiệp chưởng, nhi bạch Phật ngôn.
Tôn giả A Nan vâng nhận thánh chỉ của đức Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, để hở vai phải, quỳ thẳng, chắp tay, bạch đức Phật rằng.

今日世尊,諸根悅豫,姿色清淨,光顏巍巍。如明鏡淨,影暢表裏。威容顯耀,超絕無量。未曾瞻覩殊妙如今!
Kim nhật Thế Tôn, chư căn duyệt dự, tư sắc thanh tịnh, quang nhan nguy nguy, như minh kính tịnh, ảnh sướng biểu lý, oai dung hiển diệu, siêu tuyệt vô lượng. Vị tằng chiêm đổ thù diệu như kim!
Ngày nay đức Thế Tôn các căn vui sướng, hoan hỷ, dáng vẻ thanh tịnh, vẻ mặt sáng rực vòi vọi, như gương sáng sạch, trong ngoài thấu suốt, dung nhan oai đức hiển lộ rạng ngời, vượt trỗi vô lượng, con chưa từng ngắm nhìn vẻ đẹp thù thắng như hiện thời.

唯然大聖,我心念言:今日世尊住奇特之法;今日世雄住諸佛所住;今日世眼住導師之行;今日世英住最勝之道;今日天尊行如來之德;去來現在,佛佛相念,得無今佛念諸佛耶?
Dụy nhiên đại thánh, ngã tâm niệm ngôn, kim nhật Thế Tôn trụ kỳ đặc chi pháp, kim nhật Thế Hùng trụ chư Phật sở trụ, kim nhật Thế Nhãn trụ đạo sư chi hạnh, kim nhật Thế Anh trụ tối thắng chi đạo, kim nhật Thiên Tôn hành Như Lai chi đức, khứ lai hiện tại Phật Phật tương niệm, đắc vô kim Phật niệm chư Phật da?
Vâng, thưa đức Đại Thánh! Tâm con nghĩ rằng, hôm nay đức Thế Tôn trụ trong pháp lạ lùng đặc biệt, hôm nay đức Thế Hùng trụ nơi chư Phật trụ, hôm nay đức Thế Nhãn trụ nơi hạnh đạo sư, hôm nay đức Thế Anh trụ trong đạo tối thắng, hôm nay đức Thiên Tôn hành Như Lai đức. Quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật nghĩ tới nhau, có phải là hiện thời đức Phật nghĩ tới chư Phật hay không?

何故威神光光乃爾?
Hà cố oai thần quang quang nãi nhĩ?
Cớ sao oai thần chói ngời như thế?

於是世尊告阿難曰:云何,阿難!諸天教汝來問佛耶?自以慧見問威顏乎?
Ư thị Thế Tôn cáo A Nan viết: “Vân hà, A Nan! Chư thiên giáo nhữ lai vấn Phật da? Tự dĩ huệ kiến vấn oai nhan hồ?”
Ngay khi đó, đức Thế Tôn bảo ngài A Nan rằng: “Như thế nào hả A Nan? Chư thiên dạy ông đến hỏi Phật đó chăng? Hay là do kiến giải trí huệ của chính ông mà hỏi về dung nhan oai đức vậy?”

阿難白佛:無有諸天來教我者,自以所見問斯義耳。
A Nan bạch Phật: “Vô hữu chư thiên lai giáo ngã giả, tự dĩ sở kiến vấn tư nghĩa nhĩ!”
A Nan bạch Phật: “Chẳng có chư thiên nào đến dạy con. Do kiến giải của chính con mà hỏi nghĩa ấy”.

佛言:善哉!阿難!所問甚快。發深智慧,真妙辯才,愍念眾生,問斯慧義。如來以無盡大悲,矜哀三界,所以出興於世,光闡道教。欲拯濟群萌,惠以真實之利。無量億劫,難值難見。猶靈瑞華,時時乃出。今所問者,多所饒益,開化一切諸天人民。
Phật ngôn: - Thiện tai! A Nan! Sở vấn thậm khoái, phát thâm trí huệ, chân diệu biện tài, mẫn niệm chúng sanh, vấn tư huệ nghĩa. Như Lai dĩ vô tận đại bi, căng ai tam giới, sở dĩ xuất hưng ư thế, quang xiển đạo giáo, dục chửng tế quần manh, huệ dĩ chân thật chi lợi. Vô lượng ức kiếp, nan trị nan kiến, do Linh Thụy hoa, thời thời nãi xuất, kim sở vấn giả, đa sở nhiêu ích, khai hóa nhất thiết chư thiên nhân dân.
Đức Phật nói: - Lành thay A Nan! Lời hỏi rất hay, phát ra trí huệ sâu xa, biện tài chân thật, mầu nhiệm, nghĩ thương chúng sanh, mà hỏi về ý nghĩa trí huệ ấy. Như Lai do lòng đại bi vô tận, thương xót tam giới, cho nên xuất hiện trong cõi đời, xiển dương rạng rỡ đạo giáo, muốn cứu vớt các loài chúng sanh, ban cho lợi ích chân thật, vô lượng ức kiếp khó thể gặp gỡ, ví như hoa Linh Thụy đúng thời mới xuất hiện. Nay lời hỏi này đã tạo lợi ích rất nhiều, khai hóa hết thảy chư thiên và nhân dân.

阿難當知,如來正覺,其智難量,多所導御。慧見無礙,無能遏絕。以一餐之力,能住壽命億百千劫,無數無量,復過於此,諸根悅豫,不以毀損,姿色不變,光顏無異。
A Nan đương tri, Như Lai Chánh Giác, kỳ trí nan lượng, đa sở đạo ngự, huệ kiến vô ngại, vô năng át tuyệt. Dĩ nhất xan chi lực, năng trụ thọ mạng ức bách thiên kiếp, vô số, vô lượng, phục quá ư thử, chư căn duyệt dự, bất dĩ hủy tổn, tư sắc bất biến, quang nhan vô dị.
A Nan! Hãy nên biết Chánh Giác của Như Lai, trí ấy khó lường, nhiều cách hướng dẫn, điều ngự, tri kiến trí huệ vô ngại, chẳng ai có thể ngăn trở, đoạn tuyệt [trí huệ] ấy. Do sức của một bữa ăn mà có thể duy trì thọ mạng ức trăm ngàn kiếp, [cho đến] vô số, vô lượng, còn nhiều hơn số đó, [thế mà] các căn vui sướng, hoan hỷ, chẳng bị hủy hoại, hao tổn, thân thể chẳng biến đổi, diện mạo rạng ngời chẳng khác.

所以者何?如來定慧,究暢無極,於一切法,而得自在。
Sở dĩ giả hà? Như Lai Định Huệ, cứu sướng vô cực, ư nhất thiết pháp, nhi đắc tự tại.
Vì lẽ gì vậy? Định và Huệ của Như Lai đã thông suốt chẳng có cùng cực, được tự tại trong hết thảy các pháp.

阿難諦聽!今為汝說!
A Nan đế thính! Kim vị nhữ thuyết!
A Nan! Hãy lắng nghe, nay ta sẽ vì ông mà nói!

對曰:唯然!願樂欲聞。
Đối viết: Dụy nhiên! Nguyện nhạo dục văn.
[Ngài A Nan] thưa: Vâng ạ! Con ưa thích muốn được nghe.

佛告阿難:乃往過去久遠無量不可思議無央數劫,錠光如來,興出於世,教化度脫無量眾生,皆令得道,乃取滅度。次有如來,名曰光遠,次名月光,次名栴檀香,次名善山王,次名須彌天冠,次名須彌等曜,次名月色,次名正念,次名離垢,次名無著,次名龍天,次名夜光,次名安明頂,次名不動地,次名瑠璃妙華,次名瑠璃金色,次名金藏,次名炎光,次名炎根,次名地種,次名月像,次名日音,次名解脫華,次名莊嚴光明,次名海覺神通,次名水光,次名大香,次名離塵垢,次名捨厭意,次名寶炎,次名妙頂,次名勇立,次名功德持慧,次名蔽日月光,次名日月瑠璃光,次名無上瑠璃光,次名最上首,次名菩提華,次名月明,次名日光,次名華色王,次名水月光,次名除癡冥,次名度蓋行,次名淨信,次名善宿,次名威神,次名法慧,次名鸞音,次名師子音,次名龍音,次名處世,如此諸佛,皆悉已過。爾時,次有佛,名世自在王,如來、應供、等正覺、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。
Phật cáo A Nan: - Nãi vãng quá khứ cửu viễn vô lượng bất khả tư nghị vô ương số kiếp, Đĩnh Quang Như Lai, hưng xuất ư thế, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh, giai linh đắc đạo, nãi thủ diệt độ. Thứ hữu Như Lai, danh viết Quang Viễn, thứ danh Nguyệt Quang, thứ danh Chiên Đàn Hương, thứ danh Thiện Sơn Vương, thứ danh Tu Di Thiên Quan, thứ danh Tu Di Đẳng Diệu, thứ danh Nguyệt Sắc, thứ danh Chánh Niệm, thứ danh Ly Cấu, thứ danh Vô Trước, thứ danh Long Thiên, thứ danh Dạ Quang, thứ danh An Minh Đảnh, thứ danh Bất Động Địa, thứ danh Lưu Ly Diệu Hoa, thứ danh Lưu Ly Kim Sắc, thứ danh Kim Tạng, thứ danh Viêm Quang, thứ danh Viêm Căn, thứ danh Địa Chủng, thứ danh Nguyệt Tượng, thứ danh Nhật Âm, thứ danh Giải Thoát Hoa, thứ danh Trang Nghiêm Quang Minh, thứ danh Hải Giác Thần Thông, thứ danh Thủy Quang, thứ danh Đại Hương, thứ danh Ly Trần Cấu, thứ danh Xả Yếm Ý, thứ danh Bảo Viêm, thứ danh Diệu Đảnh, thứ danh Dũng Lập, thứ danh Công Đức Trì Huệ, thứ danh Tế Nhật Nguyệt Quang, thứ danh Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang, thứ danh Vô Thượng Lưu Ly Quang, thứ danh Tối Thượng Thủ, thứ danh Bồ Đề Hoa, thứ danh Nguyệt Minh, thứ danh Nhật Quang, thứ danh Hoa Sắc Vương, thứ danh Thủy Nguyệt Quang, thứ danh Trừ Si Minh, thứ danh Độ Cái Hạnh, thứ danh Tịnh Tín, thứ danh Thiện Tú, thứ danh Oai Thần, thứ danh Pháp Huệ, thứ danh Loan Âm, thứ danh Sư Tử Âm, thứ danh Long Âm, thứ danh Xử Thế, như thử chư Phật, giai tất dĩ quá. Nhĩ thời, thứ hữu Phật, danh Thế Tự Tại Vương, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Trong quá khứ lâu xa vô lượng chẳng thể nghĩ bàn vô ương số kiếp, Đĩnh Quang Như Lai xuất hiện trong cõi đời, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh đều khiến cho họ đắc đạo rồi Ngài diệt độ. Kế đó có Như Lai, tên là Quang Viễn, vị kế tiếp tên là Nguyệt Quang, vị kế tiếp tên là Chiên Đàn Hương, vị kế tiếp tên là Thiện Sơn Vương, vị kế tiếp tên là Tu Di Thiên Quan, vị kế tiếp tên là Tu Di Đẳng Diệu, vị kế tiếp tên là Nguyệt Sắc, vị kế tiếp tên là Chánh Niệm, vị kế tiếp tên là Ly Cấu, vị kế tiếp tên là Vô Trước, vị kế tiếp tên là Long Thiên, vị kế tiếp tên là Dạ Quang, vị kế tiếp tên là An Minh Đảnh, vị kế tiếp tên là Bất Động Địa, vị kế tiếp tên là Lưu Ly Diệu Hoa, vị kế tiếp tên là Lưu Ly Kim Sắc, vị kế tiếp tên là Kim Tạng, vị kế tiếp tên là Viêm Quang, vị kế tiếp tên là Viêm Căn, vị kế tiếp tên là Địa Chủng, vị kế tiếp tên là Nguyệt Tượng, vị kế tiếp tên là Nhật Âm, vị kế tiếp tên là Giải Thoát Hoa, vị kế tiếp tên là Trang Nghiêm Quang Minh, vị kế tiếp tên là Hải Giác Thần Thông, vị kế tiếp tên là Thủy Quang, vị kế tiếp tên là Đại Hương, vị kế tiếp tên là Ly Trần Cấu, vị kế tiếp tên là Xả Yếm Ý, vị kế tiếp tên là Bảo Viêm, vị kế tiếp tên là Diệu Đảnh, vị kế tiếp tên là Dũng Lập, vị kế tiếp tên là Công Đức Trì Huệ, vị kế tiếp tên là Tế Nhật Nguyệt Quang, vị kế tiếp tên là Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang, vị kế tiếp tên là Vô Thượng Lưu Ly Quang, vị kế tiếp tên là Tối Thượng Thủ, vị kế tiếp tên là Bồ Đề Hoa, vị kế tiếp tên là Nguyệt Minh, vị kế tiếp tên là Nhật Quang, vị kế tiếp tên là Hoa Sắc Vương, vị kế tiếp tên là Thủy Nguyệt Quang, vị kế tiếp tên là Trừ Si Minh, vị kế tiếp tên là Độ Cái Hạnh, vị kế tiếp tên là Tịnh Tín, vị kế tiếp tên là Thiện Tú, vị kế tiếp tên là Oai Thần, vị kế tiếp tên là Pháp Huệ, vị kế tiếp tên là Loan Âm, vị kế tiếp tên là Sư Tử Âm, vị kế tiếp tên là Long Âm, vị kế tiếp tên là Xử Thế. Chư Phật như thế đều đã diệt độ. Lúc bấy giờ, kế đó có một vị Phật tên là Thế Tự Tại Vương, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

時有國王,聞佛說法,心懷悅豫,尋發無上正真道意。
Thời hữu quốc vương, văn Phật thuyết pháp, tâm hoài duyệt dự, tầm phát vô thượng chánh chân đạo ý.
Khi ấy, có quốc vương nghe đức Phật thuyết pháp, ôm lòng vui sướng, liền phát đạo ý chánh chân vô thượng.

棄國捐王,行作沙門,號曰法藏。高才勇哲,與世超異。
Khí quốc quyên vương, hành tác sa-môn, hiệu viết Pháp Tạng, tài cao dũng triết, dữ thế siêu dị.
Bỏ nước, lìa ngôi, trở thành sa-môn, hiệu là Pháp Tạng, tài cao, dũng khí, thông suốt, trỗi lạ hơn đời.

詣世自在王如來所,稽首佛足,右繞三帀,長跪合掌,以頌讚曰。
Nghệ Thế Tự Tại Vương Như Lai sở, khể thủ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, trường quỵ hiệp chưởng, dĩ tụng tán viết.
Đến chỗ Thế Tự Tại Vương Như Lai, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu theo chiều phải ba vòng, quỳ thẳng, chắp tay, dùng kệ tụng tán thán rằng.

光顏巍巍,威神無極。如是炎明,無與等者。日月摩尼,珠光燄耀,皆悉隱蔽,猶如聚墨。如來顏容,超世無倫。正覺大音,響流十方。戒聞精進,三昧智慧,威德無侶,殊勝希有。深諦善念,諸佛法海,窮深盡奧,究其涯底。無明欲怒,世尊永無。人雄師子,神德無量。功勳廣大,智慧深妙,光明威相,震動大千。
Quang nhan nguy nguy, oai thần vô cực, như thị viêm minh, vô dữ đẳng giả, nhật, nguyệt, ma-ni, châu quang diễm diệu, giai tất ẩn tế, do như tụ mặc. Như Lai nhan dung, siêu thế vô luân, Chánh Giác đại âm, hưởng lưu thập phương. Giới văn tinh tấn, tam-muội trí huệ, oai đức vô lữ, thù thắng hy hữu, thâm đế thiện niệm, chư Phật pháp hải, cùng thâm tận áo, cứu kỳ nhai để. Vô minh, dục, nộ, Thế Tôn vĩnh vô. Nhân hùng Sư Tử, thần đức vô lượng, công huân quảng đại, trí huệ thâm diệu, quang minh oai tướng, chấn động đại thiên.
Quang nhan vòi vọi, oai thần vô cực, chói ngời như thế, không ai sánh bằng. Nhật, nguyệt, ma-ni, bảo châu chói rực, thảy đều ẩn khuất, giống như đống mực. Dung mạo Như Lai, hơn đời khôn sánh. Đại âm Chánh Giác, vang dội mười phương. Giới, văn, tinh tấn, tam-muội, trí huệ, oai đức khôn tầy, thù thắng hiếm có. Thiện niệm sâu chắc, biển pháp chư Phật, cùng tột sâu mầu, thấu suốt bờ, đáy. Thế Tôn vĩnh viễn, chẳng có vô minh, sân hận, tham dục, nhân hùng Sư Tử, thần đức vô lượng, công huân rộng lớn, trí huệ sâu mầu, oai tướng quang minh, chấn động đại thiên.

願我作佛,齊聖法王。過度生死,靡不解脫。布施調意,戒忍精進,如是三昧,智慧無上。吾誓得佛,普行此願。一切恐懼,為作大安。假令有佛,百千億萬,無量大聖,數如恆沙。供養一切,斯等諸佛,不如求道,堅正不卻。
Nguyện ngã tác Phật, tề thánh Pháp Vương, quá độ sanh tử, mị bất giải thoát. Bố thí điều ý, giới, nhẫn, tinh tấn. Như thị tam-muội, trí huệ vô thượng, ngô thệ đắc Phật, phổ hành thử nguyện, nhất thiết khủng cụ, vị tác đại an, giả linh hữu Phật, bách thiên ức vạn, vô lượng đại thánh, số như hằng sa, cúng dường nhất thiết, tư đẳng chư Phật, bất như cầu đạo, kiên chánh bất khước.
Nguyện con thành Phật, bằng thánh pháp vương, vượt khỏi sanh tử, đều được giải thoát, bố thí, điều tâm, giới, nhẫn, tinh tấn. Tam-muội như thế, trí huệ vô thượng, con thề thành Phật, hành khắp nguyện này, tạo đại an ổn, cho kẻ sợ hãi. Giả sử có Phật, trăm ngàn ức vạn, vô lượng đại thánh, số như hằng sa, cúng dường hết thảy, các vị Phật ấy, chẳng bằng cầu đạo, kiên định cái tâm, đoan chánh cái tâm, chẳng hề lùi bước.

譬如恆沙,諸佛世界,復不可計,無數剎土。光明悉照,徧此諸國。如是精進,威神難量。令我作佛,國土第一。其眾奇妙,道場超絕。國如泥洹,而無等雙。我當愍哀,度脫一切。十方來生,心悅清淨,已至我國,快 樂安隱。
Thí như hằng sa, chư Phật thế giới, phục bất khả kế, vô số sát độ, quang minh tất chiếu, biến thử chư quốc, như thị tinh tấn, oai thần nan lượng, linh ngã tác Phật, quốc độ đệ nhất. Kỳ chúng kỳ diệu, đạo tràng siêu tuyệt, quốc như Nê Hoàn, nhi vô đẳng song, ngã đương mẫn ai, độ thoát nhất thiết, thập phương lai sanh, tâm duyệt thanh tịnh, dĩ chí ngã quốc, khoái lạc an ổn.
Ví như hằng sa các thế giới Phật, lại chẳng thể tính vô số cõi nước, quang minh đều chiếu, khắp các nước ấy. Tinh tấn như thế, oai thần khó lường. Khiến con thành Phật, cõi nước bậc nhất. Đại chúng kỳ diệu, đạo tràng tuyệt vời, cõi như Niết Bàn, độc nhất khôn sánh, con sẽ thương xót, độ thoát hết thảy, mười phương sanh về, tâm vui thanh tịnh, sanh vào cõi con, vui sướng, an ổn.

幸佛明信,是我真證。發願於彼,力精所欲。十方世尊,智慧無礙,常令此尊,知我心行。假使身止,諸苦毒中,我行精進,忍終不悔。
Hạnh Phật minh tín, thị ngã chân chứng, phát nguyện ư bỉ, lực tinh sở dục, thập phương Thế Tôn, trí huệ vô ngại, thường linh thử tôn, tri ngã tâm hạnh. Giả sử thân chỉ, chư khổ độc trung, ngã hành tinh tấn, nhẫn chung bất hối.
Mong Phật tin, hiểu, chứng thực cho con. Phát nguyện như vậy, dốc sức tinh tấn, hòng thỏa lòng mong. Mười phương Thế Tôn, trí huệ vô ngại, thường khiến đức Phật biết tâm hạnh con. Giả sử thân ở trong các khổ độc, con hành tinh tấn, nhẫn nại chẳng hối.

佛告阿難:法藏比丘說此頌已,而白佛言:「唯然,世尊!我發無上正覺之心。願佛為我廣宣經法,我當修行,攝取佛國清淨莊嚴無量妙土。令我於世,速成正覺,拔諸生死勤苦之本。」佛告阿難:時世自在王佛,語法藏比丘:「如所修行,莊嚴佛土,汝自當知。」
Phật cáo A Nan: - Pháp Tạng tỳ-kheo thuyết thử tụng dĩ, nhi bạch Phật ngôn: “Dụy nhiên, Thế Tôn! Ngã phát Vô Thượng Chánh Giác chi tâm, nguyện Phật vị ngã quảng tuyên kinh pháp, ngã đương tu hành, nhiếp thủ Phật quốc thanh tịnh trang nghiêm vô lượng diệu độ, linh ngã ư thế, tốc thành Chánh Giác, bạt chư sanh tử cần khổ chi bổn”. Phật cáo A Nan: - Thời Thế Tự Tại Vương Phật, ngữ Pháp Tạng tỳ-kheo: “Như sở tu hành, trang nghiêm Phật độ, nhữ tự đương tri”.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Tỳ-kheo Pháp Tạng nói bài kệ tụng ấy xong, bèn bạch đức Phật rằng: “Kính vâng, đức Thế Tôn! Con đã phát tâm Vô Thượng Chánh Giác. Nguyện Phật hãy vì con tuyên nói rộng rãi các kinh pháp, con sẽ tu hành, nhiếp thủ cõi nước mầu nhiệm thanh tịnh trang nghiêm vô lượng, khiến cho con ở trong cõi đời mau thành Chánh Giác, dẹp trừ cội gốc của các thứ sanh tử siêng khổ sự khổ chẳng ngưng dứt ”. Đức Phật bảo ngài A Nan: - Lúc bấy giờ, Thế Tự Tại Vương Phật bảo tỳ-kheo Pháp Tạng: “Như chuyện tu hành, trang nghiêm cõi Phật của ông, ông hãy tự nên biết”.

比丘白佛:「斯義弘深,非我境界。唯願世尊,廣為敷演諸佛如來淨土之行。我聞此已,當如說修行,成滿所願。」爾時世自在王佛,知其高明,志願深廣,即為法藏比丘而說經言:「譬如大海,一人斗量,經歷劫數,尚可窮底,得其妙寶。人有至心精進,求道不止,會當剋果,何願不得?」於是世自在王佛,即為廣說二百一十億諸佛剎土,天人之善惡,國土之麤妙,應其心願,悉現與之。
Tỳ-kheo bạch Phật: “Tư nghĩa hoằng thâm, phi ngã cảnh giới. Duy nguyện Thế Tôn, quảng vị phu diễn chư Phật Như Lai tịnh độ chi hạnh. Ngã văn thử dĩ, đương như thuyết tu hành, thành mãn sở nguyện”. Nhĩ thời, Thế Tự Tại Vương Phật, tri kỳ cao minh, chí nguyện thâm quảng, tức vị Pháp Tạng tỳ-kheo nhi thuyết kinh ngôn: “Thí như đại hải, nhất nhân đấu lượng, kinh lịch kiếp số, thượng khả cùng để, đắc kỳ diệu bảo. Nhân hữu chí tâm tinh tấn, cầu đạo bất chỉ, hội đương khắc quả, hà nguyện bất đắc?” Ư thị, Thế Tự Tại Vương Phật, tức vị quảng thuyết nhị bách nhất thập ức chư Phật sát độ, thiên nhân chi thiện ác, quốc độ chi thô diệu, ứng kỳ tâm nguyện, tất hiện dữ chi.
Tỳ-kheo bạch Phật: “Nghĩa ấy rộng sâu, chẳng phải là cảnh giới của con. Kính mong đức Thế Tôn, hãy vì con phô diễn rộng rãi hạnh Tịnh Độ của chư Phật Như Lai. Con nghe hạnh ấy rồi, sẽ tu hành đúng như lời dạy, thành tựu viên mãn lời nguyện”. Lúc bấy giờ, Thế Tự Tại Vương Phật biết tỳ-kheo cao minh, chí nguyện sâu rộng, liền vì tỳ-kheo Pháp Tạng nói kinh như sau: “Ví như biển cả, có một người dùng đấu để đong, trải qua nhiều kiếp, còn có thể thấu đến tận đáy, đạt được của báu mầu nhiệm. Người có lòng chí tâm tinh tấn, cầu đạo chẳng ngừng, ắt sẽ đạt được cái quả, có nguyện nào mà chẳng đạt được?” Ngay lúc đó, Thế Tự Tại Vương Phật liền vì tỳ-kheo nói rộng hai trăm mười ức các cõi Phật, sự thiện ác của trời người, cõi nước thô thiển hay tinh diệu, ứng với tâm nguyện của tỳ-kheo thảy đều hiện ra cho thấy.

時彼比丘,聞佛所說嚴淨國土,皆悉覩見,起發無上殊勝之願。其心寂靜,志無所著。一切世間,無能及者。具足五劫,思惟攝取莊嚴佛國清淨之行。阿難白佛:彼佛國土,壽量幾何?佛言:其佛壽命,四十二劫。時法藏比丘,攝取二百一十億諸佛妙土清淨之行。
Thời bỉ tỳ-kheo, văn Phật sở thuyết nghiêm tịnh quốc độ, giai tất đổ kiến, khởi phát vô thượng thù thắng chi nguyện. Kỳ tâm tịch tĩnh, chí vô sở trước, nhất thiết thế gian, vô năng cập giả, cụ túc ngũ kiếp, tư duy nhiếp thủ trang nghiêm Phật quốc thanh tịnh chi hạnh. A Nan bạch Phật: - Bỉ Phật quốc độ, thọ lượng kỷ hà? Phật ngôn: - Kỳ Phật thọ mạng, tứ thập nhị kiếp. Thời Pháp Tạng tỳ-kheo, nhiếp thủ nhị bách nhất thập ức chư Phật diệu độ thanh tịnh chi hạnh.
Khi ấy, vị tỳ-kheo đó nghe đức Phật nói các cõi nước trang nghiêm, thanh tịnh, thảy đều trông thấy, bèn phát khởi nguyện thù thắng vô thượng. Tâm Ngài tịch tĩnh, chí chẳng đắm chấp, hết thảy thế gian chẳng ai có thể sánh bằng, trọn đủ năm kiếp tư duy nhiếp thủ các hạnh thanh tịnh trang nghiêm cõi Phật. Ngài A Nan bạch Phật: - Trong cõi Phật ấy, thọ lượng bao nhiêu? Đức Phật nói: - Thọ mạng của vị Phật ấy là bốn mươi hai kiếp. Khi đó, tỳ-kheo Pháp Tạng nhiếp thủ hạnh thanh tịnh từ hai trăm mười ức các cõi nước mầu nhiệm của chư Phật.

如是修已,詣彼佛所,稽首禮足,遶佛三帀,合掌而住,白佛言:世尊!我已攝取莊嚴佛土清淨之行。
Như thị tu dĩ, nghệ bỉ Phật sở, khể thủ lễ túc, nhiễu Phật tam táp, hiệp chưởng nhi trụ, bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngã dĩ nhiếp thủ trang nghiêm Phật độ thanh tịnh chi hạnh”.
Tu như thế rồi, đến chỗ đức Phật ấy, dập đầu lễ dưới chân Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng, đứng chắp tay, bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con đã nhiếp thủ hạnh thanh tịnh trang nghiêm cõi Phật”.

佛告比丘:汝今可說,宜知是時,發起悅可一切大眾。菩薩聞已,修行此法,緣致滿足無量大願。
Phật cáo tỳ-kheo: “Nhữ kim khả thuyết, nghi tri thị thời, phát khởi duyệt khả nhất thiết đại chúng. Bồ Tát văn dĩ, tu hành thử pháp, duyên trí mãn túc vô lượng đại nguyện”.
Đức Phật bảo tỳ-kheo: “Ông nay hãy nên nói, hãy nên biết là đúng lúc để phát khởi sự vui sướng, tán thành nơi hết thảy đại chúng. Hàng Bồ Tát nghe xong, tu hành pháp này, nhờ vào đó mà đầy đủ vô lượng đại nguyện”.

比丘白佛:唯垂聽察!如我所願,當具說之。
Tỳ-kheo bạch Phật: “Duy thùy thính sát! Như ngã sở nguyện, đương cụ thuyết chi”.
Tỳ-kheo bạch Phật: “Kính xin [đức Phật] rủ lòng nghe xét, như đối với lời nguyện của con, sẽ nói đầy đủ [như sau]”.

設我得佛,國有地獄、餓鬼、畜生者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc hữu địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, cõi nước có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人壽終之後,復更三惡道者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, thọ chung chi hậu, phục cánh tam ác đạo giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước sau khi mạng chung, lại đọa trong ba ác đạo, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,不悉真金色者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất tất chân kim sắc giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi không đều là thân màu vàng ròng, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,形色不同,有好醜者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, hình sắc bất đồng, hữu hảo xú giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi hình sắc khác nhau, có kẻ xấu, người đẹp, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,不識宿命,下至知百千億那由他諸劫事者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất thức Túc Mạng, hạ chí tri bách thiên ức na-do-tha chư kiếp sự giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng biết Túc Mạng, tối thiểu là biết những chuyện trong trăm ngàn ức na-do-tha kiếp, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,不得天眼,下至見百千億那由他諸佛國者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất đắc Thiên Nhãn, hạ chí kiến bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng đắc Thiên Nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,不得天耳,下至聞百千億那由他諸佛所說,不悉受持者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất đắc Thiên Nhĩ, hạ chí văn bách thiên ức na-do-tha chư Phật sở thuyết, bất tất thọ trì giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng đắc Thiên Nhĩ, tối thiểu chẳng nghe lời dạy của trăm ngàn ức na-do-tha chư Phật, chẳng đều thọ trì, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,不得見他心智,下至知百千億那由他諸佛國中眾生心念者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất đắc kiến Tha Tâm Trí, hạ chí tri bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc trung chúng sanh tâm niệm giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng đạt được Tha Tâm Trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,不得神足,於一念頃,下至不能超過百千億那由他諸佛國者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất đắc Thần Túc, ư nhất niệm khoảnh, hạ chí bất năng siêu quá bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng đắc Thần Túc, trong khoảng một niệm, tối thiểu là chẳng thể vượt qua trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,若起想念貪計身者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, nhược khởi tưởng niệm, tham kế thân giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi mà nếu như dấy lên tưởng niệm, tham đắm, so đo cái thân, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,不住定聚,必至滅度者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất trụ Định Tụ, tất chí diệt độ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng trụ trong Định Tụ, ắt đạt đến diệt độ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,光明有限量,下至不照百千億那由他諸佛國者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quang minh hữu hạn lượng, hạ chí bất chiếu bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu thấu trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,壽命有限量,下至百千億那由他劫者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, thọ mạng hữu hạn lượng, hạ chí bách thiên ức na-do-tha kiếp giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là [sống đến] trăm ngàn ức na-do-tha kiếp, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中聲聞,有能計量,乃至三千大千世界眾生,悉成緣覺,於百千劫,悉共計校,知其數者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Thanh Văn, hữu năng kế lượng, nãi chí tam thiên đại thiên thế giới chúng sanh, tất thành Duyên Giác, ư bách thiên kiếp, tất cộng kế giảo, tri kỳ số giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, Thanh Văn trong nước có thể tính đếm, cho đến chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới đều thành Duyên Giác, trong trăm ngàn kiếp luôn cùng nhau tính toán, mà biết được con số ấy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,壽命無能限量,除其本願,修短自在。若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, thọ mạng vô năng hạn lượng, trừ kỳ bổn nguyện, tu đoản tự tại. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi, thọ mạng chẳng thể hạn lượng, trừ phi vì nguyện của chính họ mà [thọ mạng] dài hay ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,乃至聞有不善名者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, nãi chí văn hữu bất thiện danh giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi thậm chí nghe có cái tên bất thiện, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,十方世界無量諸佛,不悉咨嗟稱我名者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, thập phương thế giới vô lượng chư Phật, bất tất tư ta, xưng ngã danh giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, mười phương thế giới vô lượng chư Phật nếu chẳng đều nắc nỏm khen ngợi danh hiệu của tôi, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,十方眾生,至心信樂,欲生我國,乃至十念,若不生者,不取正覺。唯除五逆,誹謗正法。
Thiết ngã đắc Phật, thập phương chúng sanh, chí tâm tín nhạo, dục sanh ngã quốc, nãi chí thập niệm, nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác, duy trừ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp.
Nếu tôi thành Phật, mười phương chúng sanh chí tâm tin ưa, muốn sanh về nước tôi, dẫu chỉ mười niệm, mà nếu chẳng được sanh về, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác, chỉ trừ kẻ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp.

設我得佛,十方眾生,發菩提心,修諸功德,至心發願,欲生我國,臨壽終時,假令不與大眾圍遶現其人前者,不 取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, thập phương chúng sanh, phát Bồ Đề tâm, tu chư công đức, chí tâm phát nguyện, dục sanh ngã quốc, lâm thọ chung thời, giả linh bất dữ đại chúng vi nhiễu hiện kỳ nhân tiền giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, mười phương chúng sanh phát Bồ Đề tâm, tu các công đức, chí tâm phát nguyện, muốn sanh về nước tôi, khi sắp mạng chung, giả sử tôi chẳng cùng đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt người ấy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,十方眾生,聞我名號,繫念我國,植眾德本,至心迴向,欲生我國,不果遂者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, thập phương chúng sanh, văn ngã danh hiệu, hệ niệm ngã quốc, thực chúng đức bổn, chí tâm hồi hướng, dục sanh ngã quốc, bất quả toại giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, mười phương chúng sanh nghe danh hiệu của tôi, hệ niệm nước tôi, trồng các cội đức, chí tâm hồi hướng, muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,不悉成滿三十二大人相者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất tất thành mãn tam thập nhị đại nhân tướng giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước chẳng thảy thành tựu viên mãn ba mươi hai tướng đại nhân, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,他方佛土諸菩薩眾,來生我國,究竟必至一生補處。除其本願自在所化。為眾生故,被弘誓鎧,積累德本,度脫一切,遊諸佛國,修菩薩行,供養十方諸佛如來。開化恆沙無量眾生,使立無上正真之道,超出常倫諸地之行,現前修習普賢之德。若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, tha phương Phật độ chư Bồ Tát chúng, lai sanh ngã quốc, cứu cánh tất chí Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ kỳ bổn nguyện tự tại sở hóa. Vị chúng sanh cố, bị hoằng thệ khải, tích lũy đức bổn, độ thoát nhất thiết, du chư Phật quốc, tu Bồ Tát hạnh, cúng dường thập phương chư Phật Như Lai, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, sử lập vô thượng chánh chân chi đạo, siêu xuất thường luân chư địa chi hạnh, hiện tiền tu tập Phổ Hiền chi đức. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát từ các cõi Phật ở phương khác sanh đến nước tôi, rốt ráo ắt đạt đến Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ những trường hợp do bổn nguyện mà tự tại hóa độ. Do vì chúng sanh nên mặc áo giáp hoằng thệ, tích lũy cội đức, độ thoát hết thảy, dạo chơi các cõi Phật, tu Bồ Tát hạnh, cúng dường mười phương chư Phật Như Lai, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, khiến cho họ đứng vững nơi đạo vô thượng chánh chân, vượt trỗi hạnh của những địa vị thông thường, hiện tiền tu tập phẩm đức của Phổ Hiền. Nếu chẳng như thế, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中菩薩,承佛神力,供養諸佛,一食之頃,不能徧至無量無數億那由他諸佛國者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, thừa Phật thần lực, cúng dường chư Phật, nhất thực chi khoảnh, bất năng biến chí vô lượng vô số ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nương vào thần lực của Phật để cúng dường chư Phật, trong khoảng một bữa ăn, chẳng thể đến khắp vô lượng vô số ức na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中菩薩,在諸佛前,現其德本,諸所求欲供養之具,若不如意者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, tại chư Phật tiền, hiện kỳ đức bổn, chư sở cầu dục cúng dường chi cụ, nhược bất như ý giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, ở trước các đức Phật, hiển hiện cội đức của họ, mong cầu các vật để cúng dường mà nếu chẳng như ý, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中菩薩,不能演說一切智者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, bất năng diễn thuyết Nhất Thiết Trí giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, hàng Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói Nhất Thiết Trí, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中菩薩,不得金剛那羅延身者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, bất đắc Kim Cang Na La Diên thân giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng đạt được thân Kim Cang Na La Diên, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,一切萬物,嚴淨光麗,形色殊特,窮微極妙,無能稱量。其諸眾生,乃至逮得天眼,有能明了,辯其名數者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, nhất thiết vạn vật, nghiêm tịnh quang lệ, hình sắc thù đặc, cùng vi cực diệu, vô năng xưng lượng. Kỳ chư chúng sanh, nãi chí đãi đắc Thiên Nhãn, hữu năng minh liễu, biện kỳ danh số giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước, hết thảy vạn vật trang nghiêm, thanh tịnh, sáng ngời, mỹ lệ, hình sắc thù thắng đặc biệt, vi diệu cùng cực, chẳng thể đếm, kể. Các chúng sanh ấy dẫu đã đắc Thiên Nhãn, nếu như có thể hiểu rõ, biện định tên gọi và số lượng của chúng (muôn vật trong thế giới Cực Lạc), tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中菩薩,乃至少功德者,不能知見其道場樹無量光色,高四百萬里者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, nãi chí thiểu công đức giả, bất năng tri kiến kỳ đạo tràng thụ vô lượng quang sắc, cao tứ bách vạn lý giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, hàng Bồ Tát trong nước tôi, dẫu là kẻ ít công đức mà chẳng thể thấy, biết cây đạo tràng có vô lượng quang minh và màu sắc, cao bốn trăm vạn dặm thì tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中菩薩,若受讀經法,諷誦持說,而不得辯才智慧者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, nhược thọ độc kinh pháp, phúng tụng trì thuyết, nhi bất đắc biện tài trí huệ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, hàng Bồ Tát trong nước tôi nếu nhận lãnh, đọc tụng kinh pháp, phúng tụng, trì, nói, mà chẳng đắc biện tài trí huệ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中菩薩,智慧辯才,若可限量者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, trí huệ biện tài, nhược khả hạn lượng giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, hàng Bồ Tát trong nước tôi, trí huệ và biện tài nếu có hạn lượng, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國土清淨,皆悉照見十方一切無量無數不可思議諸佛世界,猶如明鏡,覩其面像。若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc độ thanh tịnh, giai tất chiếu kiến thập phương nhất thiết vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới, do như minh kính, đổ kỳ diện tượng. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, cõi nước thanh tịnh, thảy đều soi thấu mười phương hết thảy vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn các thế giới chư Phật, giống như gương sáng thấy rõ vẻ mặt. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,自地以上,至於虛空,宮殿樓觀,池 流華樹,國土所有一切萬物,皆以無量雜寶百千種香而共合成。嚴飾奇妙,超諸天人。其香普薰十方世界。菩薩聞者,皆修佛行。若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, tự địa dĩ thượng, chí ư hư không, cung điện, lâu quán, trì lưu, hoa thụ, quốc độ sở hữu nhất thiết vạn vật, giai dĩ vô lượng tạp bảo bách thiên chủng hương nhi cộng hợp thành, nghiêm sức kỳ diệu, siêu chư thiên nhân. Kỳ hương phổ huân thập phương thế giới, Bồ Tát văn giả, giai tu Phật hạnh. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, từ đất trở lên cho đến tận hư không, cung điện, lầu, quán, ao, suối, cây hoa, tất cả hết thảy vạn vật trong cõi nước đều do vô lượng trăm ngàn loại hương báu khác nhau cùng hợp thành, trang nghiêm kỳ diệu, vượt trỗi trời người. Hương ấy xông khắp mười phương thế giới, Bồ Tát ngửi thấy đều tu Phật hạnh. Nếu chẳng được vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界眾生之類,蒙我光明觸其身者,身心柔軟,超過天人。若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chúng sanh chi loại, mông ngã quang minh xúc kỳ thân giả, thân tâm nhu nhuyễn, siêu quá thiên nhân. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các loài chúng sanh trong các thế giới của chư Phật được quang minh của tôi chạm vào thân họ, thân tâm họ sẽ mềm dịu, vượt trỗi trời người. Nếu chẳng được vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界眾生之類,聞我名字,不得菩薩無生法忍諸深總持者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chúng sanh chi loại, văn ngã danh tự, bất đắc Bồ Tát Vô Sanh Pháp Nhẫn chư thâm tổng trì giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các loài chúng sanh trong thế giới của chư Phật nghe danh tự của tôi mà chẳng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn và các môn tổng trì sâu của hàng Bồ Tát, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界,其有女人,聞我名字,歡喜信樂,發菩提心,厭惡女身,壽終之後,復為女像者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới, kỳ hữu nữ nhân, văn ngã danh tự, hoan hỷ tín nhạo, phát Bồ Đề tâm, yếm ố nữ thân, thọ chung chi hậu, phục vi nữ tượng giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trong mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật, nếu có người nữ, nghe danh tự của tôi, hoan hỷ, tin tưởng, ưa thích, phát Bồ Đề tâm, chán ghét thân nữ, sau khi thọ chung, lại làm thân nữ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界諸菩薩眾,聞我名字,壽終之後,常修梵行,至成佛道。若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, thọ chung chi hậu, thường tu phạm hạnh, chí thành Phật đạo. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật, nghe danh tự của tôi, sau khi thọ chung, thường tu phạm hạnh cho đến khi thành Phật đạo. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界諸天人民 ,聞我名字,五體投地,稽首作禮,歡喜信樂,修菩薩行,諸天世人,莫不致敬。若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chư thiên nhân dân, văn ngã danh tự, ngũ thể đầu địa, khể thủ tác lễ, hoan hỷ tín nhạo, tu Bồ Tát hạnh, chư thiên thế nhân, mạc bất trí kính. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, chư thiên và nhân dân trong vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các thế giới của mười phương chư Phật, nghe danh tự của tôi, năm vóc gieo xuống đất, dập đầu làm lễ, hoan hỷ, tin tưởng, ưa thích, tu Bồ Tát hạnh, chư thiên người đời, không ai chẳng dốc lòng cung kính. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,欲得衣服,隨念即至,如佛所讚應法妙服,自然在身。有求裁縫擣染浣濯者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, dục đắc y phục, tùy niệm tức chí, như Phật sở tán ứng pháp diệu phục, tự nhiên tại thân, hữu cầu tài phùng đảo nhiễm hoán trạc giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước muốn có y phục, vừa nghĩ liền có, y phục đẹp đẽ đúng pháp được Phật ca ngợi sẽ tự nhiên [xuất hiện] trên thân. Nếu còn phải cắt may, nhuộm màu, giặt giũ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中天人,所受快樂,不如漏盡比丘者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân, sở thọ khoái lạc, bất như Lậu Tận tỳ-kheo giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước hưởng thụ vui sướng chẳng giống như vị tỳ-kheo đã chứng Lậu Tận, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中菩薩,隨意欲見十方無量嚴淨佛土,應時如願,於寶樹中,皆悉照見,猶如明鏡,覩其面 像。若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, tùy ý dục kiến thập phương vô lượng nghiêm tịnh Phật độ, ứng thời như nguyện, ư bảo thụ trung, giai tất chiếu kiến, do như minh kính, đổ kỳ diện tượng. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tùy ý muốn thấy mười phương vô lượng cõi Phật trang nghiêm, thanh tịnh, sẽ ngay lập tức như nguyện, từ trong cây báu, thảy đều trông thấy rõ rệt, giống như gương sáng trông thấy khuôn mặt. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,至於得佛,諸根缺陋,不具足者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, chí ư đắc Phật, chư căn khuyết lậu, bất cụ túc giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi nước ở phương khác nghe danh tự của tôi cho đến khi thành Phật mà các căn thiếu hụt, chẳng đầy đủ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,皆悉逮得清淨解脫三昧。住是三昧,一發意頃,供養無量不可思議諸佛世尊,而不失定意。若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, giai tất đãi đắc thanh tịnh giải thoát tam-muội. Trụ thị tam-muội, nhất phát ý khoảnh, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, nhi bất thất định ý. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi nước ở phương khác, nghe danh tự của tôi, thảy đều đạt được tam-muội giải thoát thanh tịnh. Trụ trong tam-muội ấy, trong khoảng phát ý, cúng dường vô lượng chẳng thể nghĩ bàn chư Phật Thế Tôn, mà chẳng đánh mất định ý. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,壽終之後,生尊貴家。若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, thọ chung chi hậu, sanh tôn quý gia. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong những cõi nước nơi phương khác, nghe danh tự của tôi, sau khi thọ chung, sanh trong nhà tôn quý. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,歡喜踊躍,修菩薩行,具足德本。若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, hoan hỷ dũng dược, tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, các vị trong các cõi nước ở nơi phương khác nghe danh tự của tôi, hoan hỷ, hớn hở, tu hạnh Bồ Tát, đầy đủ các cội đức. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,皆悉逮得普等三昧。住是三昧,至於成佛,常見無量不可思議 一切諸佛。 若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, giai tất đãi đắc Phổ Đẳng tam-muội. Trụ thị tam-muội, chí ư thành Phật, thường kiến vô lượng bất khả tư nghị nhất thiết chư Phật. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi nước ở phương khác, nghe danh hiệu của tôi, thảy đều đạt được Phổ Đẳng tam-muội. Trụ trong tam-muội ấy, cho đến khi thành Phật, thường thấy vô lượng chẳng thể nghĩ bàn hết thảy chư Phật. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,國中菩薩,隨其志願所欲聞法,自然得聞。若不爾者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, tùy kỳ chí nguyện sở dục văn pháp, tự nhiên đắc văn. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước thuận theo chí nguyện của họ muốn nghe pháp nào, sẽ tự nhiên được nghe. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,不即得至不退轉者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, bất tức đắc chí Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi nước ở phương khác, nghe danh hiệu của tôi mà chẳng liền đắc Bất Thoái Chuyển, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,不即得至第一忍,第二第三法忍,於諸佛法不能即得不退轉者,不取正覺。
Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, bất tức đắc chí đệ nhất nhẫn, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn, ư chư Phật pháp, bất năng tức đắc bất thoái chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi nước nơi phương khác, nghe danh tự của tôi, nếu chẳng đắc ngay đệ nhất nhẫn, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn, đối với Phật pháp của chư Phật mà chẳng liền đạt được bất thoái chuyển, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

佛告阿難:爾時法藏比丘,說此願已,以偈頌曰:
Phật cáo A Nan: - Nhĩ thời, Pháp Tạng tỳ-kheo, thuyết thử nguyện dĩ, dĩ kệ tụng viết:
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Lúc bấy giờ, tỳ-kheo Pháp Tạng nói nguyện ấy xong, dùng kệ tụng rằng.

我建超世願,必至無上道,斯願不滿足,誓不成等覺。
Ngã kiến siêu thế nguyện, tất chí vô thượng đạo, tư nguyện bất mãn túc, thệ bất thành Đẳng Giác.
Con lập nguyện hơn đời, ắt đạt vô thượng đạo, nguyện ấy chẳng trọn thỏa, thề chẳng thành Đẳng Giác.

我於無量劫,不為大施主,普濟諸貧苦,誓不成等覺。我至成佛道,名聲超十方,究竟有不聞,誓不成等覺。
Ngã ư vô lượng kiếp, bất vi đại thí chủ, phổ tế chư bần khổ, thệ bất thành Đẳng Giác. Ngã chí thành Phật đạo, danh thanh siêu thập phương, cứu cánh hữu bất văn, thệ bất thành Đẳng Giác.
Con trong vô lượng kiếp, chẳng làm đại thí chủ, cứu khắp kẻ nghèo khổ, thề chẳng thành Đẳng Giác. Đến khi con thành Phật, tiếng tăm trỗi mười phương, nếu có kẻ chẳng nghe, thề chẳng thành Đẳng Giác.

離欲深正念,淨慧修梵行,志求無上尊,為諸天人師。神力演大光,普照無際土,消除三垢冥,明濟眾厄難。開彼智慧眼,滅此昏盲闇,閉塞諸惡道,通達善趣門。功祚成滿足,威曜朗十方,日月戢重暉,天光隱不現。為眾開法藏,廣施功德寶,常於大眾中,說法師子吼。供養一切佛,具足眾德本,願慧悉成滿,得為三界雄。如佛無礙智,通達靡不照,願我功德力,等此最勝尊。
Ly dục thâm chánh niệm, tịnh huệ tu phạm hạnh, chí cầu vô thượng tôn, vi chư thiên nhân sư. Thần lực diễn đại quang, phổ chiếu vô tế độ, tiêu trừ tam cấu minh, minh tế chúng ách nạn. Khai bỉ trí huệ nhãn, diệt thử hôn manh ám, bế tắc chư ác đạo, thông đạt thiện thú môn. Công tộ thành mãn túc, oai diệu lãng thập phương, nhật nguyệt tập trùng huy, thiên quang ẩn bất hiện. Vị chúng khai pháp tạng, quảng thí công đức bảo, thường ư đại chúng trung, thuyết pháp sư tử hống. Cúng dường nhất thiết Phật, cụ túc chúng đức bổn, nguyện huệ tất thành mãn, đắc vi tam giới hùng. Như Phật vô ngại trí, thông đạt mị bất chiếu, nguyện ngã công đức lực, đẳng thử tối thắng tôn.
Lìa dục, chánh niệm sâu. Tịnh huệ tu phạm hạnh, chí cầu đấng vô thượng, làm thầy của trời người. Thần lực tỏa đại quang, chiếu khắp khôn ngằn cõi, tiêu trừ tối ba cấu, cứu ách nạn sáng ngời, mở huệ nhãn cho họ, diệt trừ mù tối tăm. Đóng chặt các đường ác, thông thoáng cửa đường lành, công phước đều trọn vẹn, oai sáng ngời mười phương, nhật nguyệt mất ánh sáng, quang minh của bầu trời, thảy ẩn mất chẳng hiện. Vì chúng mở kho pháp, rộng thí báu công đức, thường ở trong đại chúng, thuyết pháp, sư tử rống. Cúng dường hết thảy Phật, đầy đủ các cội đức, nguyện huệ đều vẹn thành, thành đấng tam giới hùng, như Phật vô ngại trí, thông đạt chiếu khắp cả, nguyện sức công đức tôi, bằng với đấng tối thắng.

斯願若剋果,大千應感動,虛空諸天神,當雨珍妙華。
Tư nguyện nhược khắc quả, đại thiên ưng cảm động, hư không chư thiên thần, đương vũ trân diệu hoa.
Nguyện này nếu đắc quả, đại thiên nên cảm động, chư thiên thần trên không, sẽ mưa hoa quý đẹp.

佛語阿難:法藏比丘,說此頌已,應時普地六種震動,天雨妙華,以散其上。自然音樂,空中讚言:決定必成無上正覺。
Phật ngữ A Nan: - Pháp Tạng tỳ-kheo, thuyết thử tụng dĩ, ứng thời phổ địa lục chủng chấn động, thiên vũ diệu hoa, dĩ tán kỳ thượng. Tự nhiên âm nhạc, không trung tán ngôn: “Quyết định tất thành Vô Thượng Chánh Giác”.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Tỳ-kheo Pháp Tạng nói bài kệ ấy xong, ngay lập tức, khắp cõi đất sáu thứ chấn động, trời tuôn diệu hoa để rải lên trên. Tự nhiên âm nhạc, trong hư không có tiếng khen rằng: “Quyết định ắt thành Vô Thượng Chánh Giác”.

於是法藏比丘,具足修滿如是大願,誠諦不虛。超出世間,深樂寂滅。
Ư thị Pháp Tạng tỳ-kheo cụ túc tu mãn như thị đại nguyện, thành đế bất hư, siêu xuất thế gian, thâm nhạo tịch diệt.
Do vậy, tỳ-kheo Pháp Tạng tu viên mãn đầy đủ đại nguyện như thế, chân thành, chẳng hư dối, vượt trỗi thế gian, yêu thích tịch diệt sâu xa.

阿難!法藏比丘,於其佛所,諸天魔梵龍神八部大眾之中,發斯弘誓,建此願已,一向專志莊嚴妙土。所修佛國,開廓廣大,超勝獨妙,建立常然,無衰無變。於不可思議兆載永劫,積植菩薩無量德行。
A Nan! Pháp Tạng tỳ-kheo ư kỳ Phật sở, chư thiên, ma, Phạm, long thần bát bộ đại chúng chi trung, phát tư hoằng thệ, kiến thử nguyện dĩ, nhất hướng chuyên chí trang nghiêm diệu độ. Sở tu Phật quốc, khai khuếch quảng đại, siêu thắng độc diệu, kiến lập thường nhiên, vô suy, vô biến. Ư bất khả tư nghị triệu tải vĩnh kiếp, tích thực Bồ Tát vô lượng đức hạnh.
Này A Nan! Tỳ-kheo Pháp Tạng ở nơi đức Phật ấy, trong đại chúng bao gồm chư thiên, ma, Phạm thiên, long thần bát bộ, phát ra thệ nguyện rộng lớn ấy. Đã lập nguyện ấy rồi, Ngài một mực chuyên tâm dốc chí trang nghiêm cõi nước nhiệm mầu. Cõi nước do Ngài đã tu rộng lớn mênh mông, siêu việt, thù thắng, mầu nhiệm duy nhất, đã được tạo dựng thường hằng, chẳng suy vi, chẳng biến đổi. Trong chẳng thể nghĩ bàn triệu năm kiếp số lâu xa, Ngài đã tích tập, vun bồi vô lượng đức hạnh của hàng Bồ Tát.

不生欲覺、瞋覺、害覺;不起欲想、瞋想、害想;不著色、聲、香、味、觸、法。忍力成就,不計眾苦。少欲知足,無染恚癡。三昧常寂,智慧無礙。無有虛偽諂曲之心。和顏愛語,先意承問。
Bất sanh dục giác, sân giác, hại giác; bất khởi dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng; bất trước sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nhẫn lực thành tựu, bất kế chúng khổ. Thiểu dục tri túc, vô nhiễm khuể si. Tam-muội thường tịch, trí huệ vô ngại. Vô hữu hư ngụy siểm khúc chi tâm, hòa nhan ái ngữ, tiên ý thừa vấn.
Chẳng sanh dục giác, sân giác, hại giác; chẳng khởi dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng; chẳng chấp trước sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Thành tựu nhẫn lực, chẳng nề hà các nỗi khổ, ít ham muốn, biết đủ, chẳng nhiễm nóng giận, si mê. Tam-muội thường vắng lặng, trí huệ vô ngại. Chẳng có tâm hư ngụy, siểm nịnh, cong vạy, vẻ mặt hòa hoãn, lời nói dịu dàng, biết trước ý người khác muốn hỏi.

勇猛精進,志願無倦。專求清白之法,以惠利群生。恭敬三寶,奉事師長。以大莊嚴具足眾行,令諸眾生功德成就。住空、無相、無願之法,無作無起,觀法如化。
Dũng mãnh tinh tấn, chí nguyện vô quyện, chuyên cầu thanh bạch chi pháp, dĩ huệ lợi quần sanh, cung kính Tam Bảo, phụng sự sư trưởng. Dĩ đại trang nghiêm cụ túc chúng hạnh, linh chư chúng sanh công đức thành tựu, trụ Không, Vô Tướng, Vô Nguyện chi pháp, vô tác, vô khởi, quán pháp như hóa.
Dũng mãnh, tinh tấn, chí nguyện không mệt mỏi. Chuyên cầu pháp trắng sạch để lợi ích rộng rãi quần sanh. Cung kính Tam Bảo, phụng sự sư trưởng, Dùng sự đại trang nghiêm để trọn đủ các hạnh, khiến cho công đức của các chúng sanh thành tựu, trụ nơi pháp Không, Vô Tướng, Vô Nguyện, chẳng làm, chẳng khởi, quán các pháp như huyễn hóa.

遠離麤言,自害害彼,彼此俱害。修習善語,自利利人,人我兼利。
Viễn ly thô ngôn, tự hại, hại bỉ, bỉ thử câu hại. Tu tập thiện ngữ, tự lợi, lợi nhân, nhân ngã kiêm lợi.
Xa lìa lời thô, tự hại, hại người khác, đôi bên đều bị hại. Tu tập thiện ngữ, lợi mình, lợi người, ta và người khác đều được lợi.

棄國捐王,絕去財色。自行六波羅蜜,教人令行。
Khí quốc quyên vương, tuyệt khử tài sắc, tự hành Lục Ba La Mật, giáo nhân linh hành.
Bỏ nước, bỏ ngôi vua, trừ sạch tài sắc, tự hành Lục Ba La Mật, dạy người khác hành theo.

無央數劫,積功累德。
Vô ương số kiếp, tích công lũy đức.
Trong vô ương số kiếp, tích lũy công đức.

隨其生處,在意所欲,無量寶藏,自然發應。教化安立無數眾生,住於無上正真之道。或為長者、居士、豪姓、尊貴;或為剎利、國君、轉輪聖帝;或為六欲天主,乃至梵王。常以四事,供養恭敬一切諸佛。如是功德,不可稱說。口氣香潔,如優鉢羅華。身諸毛孔,出栴檀香,其香普熏無量世界。容色端正,相好殊妙。其手常出無盡之寶,衣服飲食、珍妙華香、繒蓋幢旛,莊嚴之具。如是等事,超諸天人。於一切法,而得自在。
Tùy kỳ sanh xứ, tại ý sở dục, vô lượng bảo tạng, tự nhiên phát ứng, giáo hóa an lập vô số chúng sanh, trụ ư vô thượng chánh chân chi đạo. Hoặc vi trưởng giả, cư sĩ, hào tánh, tôn quý, hoặc vi Sát-lợi, quốc quân, Chuyển Luân thánh đế; hoặc vi Lục Dục Thiên Chúa, nãi chí Phạm vương. Thường dĩ tứ sự, cúng dường cung kính nhất thiết chư Phật. Như thị công đức, bất khả xưng thuyết. Khẩu khí hương khiết, như Ưu Bát La hoa. Thân chư mao khổng xuất Chiên Đàn hương. Kỳ hương phổ huân vô lượng thế giới, dung sắc đoan chánh, tướng hảo thù diệu. Kỳ thủ thường xuất vô tận chi bảo, y phục, ẩm thực, trân diệu hoa, hương, tăng cái, tràng phan, trang nghiêm chi cụ. Như thị đẳng sự, siêu chư thiên nhân. Ư nhất thiết pháp, nhi đắc tự tại.
Sanh ở bất cứ nơi đâu, thuận theo lòng muốn, vô lượng kho báu tự nhiên phát khởi, ứng hiện. Giáo hóa, an lập vô số chúng sanh, trụ nơi đạo Vô Thượng Chánh Chân. Hoặc làm trưởng giả, cư sĩ, dòng họ cao sang, tôn quý, hoặc làm Sát-lợi, quốc vương, Chuyển Luân thánh đế, hoặc làm chúa tầng trời thứ sáu trong Dục Giới, cho đến làm Phạm vương. Thường dùng bốn sự để cúng dường, cung kính hết thảy chư Phật. Công đức như thế chẳng thể xưng nói. Hơi miệng thơm sạch như hoa Ưu Bát La. Các lỗ chân lông trên thân thường tỏa mùi hương Chiên Đàn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới, dung sắc đoan chánh, tướng hảo đặc biệt đẹp đẽ. Tay Ngài thường tuôn ra vô tận của báu, y phục, thức ăn, hương, hoa quý báu mầu nhiệm, lọng lụa, tràng phan, các món vật trang nghiêm. Các chuyện như thế vượt trỗi trời người, được tự tại trong hết thảy các pháp.

阿難白佛:法藏菩薩,為已成佛而取滅度?為未成佛?為今現在?佛告阿難:法藏菩薩今已成佛,現在西方,去此十萬億剎。其佛世界,名曰安樂。阿難又問:其佛成道已來,為經幾時?佛言:成佛已來,凡歷十劫。其佛國土,自然七寶,金、銀、瑠璃、珊瑚、琥珀、硨磲、碼碯,合成為地,恢廓曠蕩,不可限極。悉相雜廁,轉相閒入。光赫煜爍,微妙奇麗,清淨莊嚴,超踰十方一切世界眾寶中精,其寶猶如第六天寶。又其國土,無須彌山,及金剛圍,一切諸山。亦無大海、小海,溪渠、井谷。佛神力故,欲見則見。亦無地獄、餓鬼、畜生諸難之趣。亦無四時春夏秋冬,不寒不熱,常和調適。爾時,阿難白佛言:世尊!若彼國土,無須彌山,其四天王,及忉利天,依何而住?佛語阿難:第三炎天,乃至色究竟天,皆依何住?阿難白佛:行業果報不可思議。佛語阿難:行業果報,不可思議,諸佛世界亦不可思議,其諸眾生功德善力,住行業之地,故能爾耳。阿難白佛:我不疑此法,但為將來眾生,欲除其疑惑,故問斯義。
A Nan bạch Phật: - Pháp Tạng Bồ Tát, vi dĩ thành Phật nhi thủ diệt độ? Vi vị thành Phật? Vi kim hiện tại? Phật cáo A Nan: - Pháp Tạng Bồ Tát kim dĩ thành Phật, hiện tại Tây phương, khứ thử thập vạn ức sát. Kỳ Phật thế giới, danh viết An Lạc. A Nan hựu vấn: - Kỳ Phật thành đạo dĩ lai, vị kinh kỷ thời? Phật ngôn: - Thành Phật dĩ lai, phàm lịch thập kiếp. Kỳ Phật quốc độ, tự nhiên thất bảo, kim, ngân, lưu ly, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não, hợp thành vi địa, khôi khuếch khoáng đãng, bất khả hạn cực, tất tương tạp xí, chuyển tương gián nhập, quang hách dục thước, vi diệu kỳ lệ, thanh tịnh trang nghiêm, siêu du thập phương nhất thiết thế giới chúng bảo trung tinh. Kỳ bảo do như Đệ Lục Thiên bảo. Hựu kỳ quốc độ, vô Tu Di sơn, cập Kim Cang Vi, nhất thiết chư sơn, diệc vô đại hải, tiểu hải, khê, cừ, tỉnh, cốc. Phật thần lực cố, dục kiến tắc kiến. Diệc vô địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chư nạn chi thú. Diệc vô tứ thời Xuân, Hạ, Thu, Đông, bất hàn, bất nhiệt, thường hòa điều thích. Nhĩ thời, A Nan bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Nhược bỉ quốc độ, vô Tu Di sơn, kỳ tứ thiên vương, cập Đao Lợi Thiên, y hà nhi trụ? Phật ngữ A Nan: - Đệ tam Viêm Thiên, nãi chí Sắc Cứu Cánh Thiên, giai y hà trụ? A Nan bạch Phật: - Hạnh nghiệp quả báo bất khả tư nghị. Phật ngữ A Nan: - Hạnh nghiệp quả báo, bất khả tư nghị. Chư Phật thế giới diệc bất khả tư nghị. Kỳ chư chúng sanh công đức thiện lực, trụ hạnh nghiệp chi địa, cố năng nhĩ nhĩ. A Nan bạch Phật: - Ngã bất nghi thử pháp, đản vị tương lai chúng sanh dục trừ kỳ nghi hoặc, cố vấn tư nghĩa.
Ngài A Nan bạch Phật: - Pháp Tạng Bồ Tát là vị Phật đã thành đạo rồi hiện diệt độ? Hay là chưa thành Phật? Hay là [đang thành Phật] trong hiện tại? Đức Phật bảo ngài A Nan: - Pháp Tạng Bồ Tát nay đã thành Phật, hiện đang ngự tại phương Tây, cách đây mười vạn ức cõi nước. Thế giới của đức Phật ấy có tên là An Lạc. Ngài A Nan lại hỏi: - Vị Phật ấy kể từ khi thành đạo cho đến nay đã trải qua thời gian bao lâu? Đức Phật bảo: - Ngài thành Phật cho đến nay đã qua mười kiếp. Cõi nước Phật ấy tự nhiên do bảy báu, vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não hợp thành đất, rộng rãi mênh mông, chẳng thể có ngằn mé. [Các thứ báu] đều xen lẫn, lần lượt chen lẫn vào nhau, chói ngời sáng rực, vi diệu, lạ lùng, tráng lệ, thanh tịnh trang nghiêm, vượt trỗi tinh túy của các thứ báu trong mười phương hết thảy các thế giới. Các chất báu ấy giống như chất báu trên tầng trời thứ sáu. Lại nữa, quốc độ ấy không có núi Tu Di và núi Kim Cang, Thiết Vi, hết thảy các núi, cũng chẳng có biển lớn, biển nhỏ, khe, ngòi, giếng, hang. Do Phật thần lực, nếu ai muốn thấy, sẽ trông thấy. Cũng chẳng có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, các đường hoạn nạn. Cũng chẳng có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, chẳng lạnh, chẳng nóng, [thời tiết] luôn điều hòa, thích hợp. Lúc bấy giờ, ngài A Nan bạch đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Nếu cõi nước ấy chẳng có núi Tu Di thì tứ thiên vương và trời Đao Lợi nương vào đâu để trụ? Đức Phật bảo ngài A Nan: - Tầng thứ ba là Viêm Thiên cho đến Sắc Cứu Cánh Thiên đều nương vào đâu để trụ? A Nan bạch Phật: - Hạnh nghiệp quả báo chẳng thể nghĩ bàn! Đức Phật bảo ngài A Nan: - Hạnh nghiệp quả báo chẳng thể nghĩ bàn! Thế giới của chư Phật cũng chẳng thể nghĩ bàn. Do công đức thiện lực của các chúng sanh ấy, trụ nơi địa vị hạnh nghiệp, cho nên có thể như vậy! Ngài A Nan bạch Phật: - Con chẳng nghi pháp này, chỉ vì muốn trừ nghi hoặc cho chúng sanh trong tương lai nên hỏi nghĩa này.

佛告阿難:無量壽佛,威神光明,最尊第一,諸佛光明,所不能及。或照百佛世界,或千佛世界,取要言之,乃照東方恆沙佛剎。南西北方,四維上下,亦復如是。或有佛光照於七尺,或一由旬,二三四五由旬,如是轉倍,乃至照一佛剎。是故無量壽佛,號無量光佛、無邊光佛、無礙光佛、無對光佛、炎王光佛、清淨光佛、歡喜光佛、智慧光佛、不斷光佛、難思光佛、無稱光佛、超日月光佛。其有眾生遇斯光者,三垢消滅,身意柔輭,歡喜踊躍,善心生焉。若在三塗極苦之處,見此光明,皆得休息,無復苦惱。壽終之後,皆蒙解脫。無量壽佛,光明顯赫,照曜十方。諸佛國土,莫不聞焉。不但我今稱其光明,一切諸佛、聲聞、緣覺、諸菩薩眾,咸共歎譽,亦復如是。若有眾生,聞其光明威神功德,日夜稱說,至心不斷,隨意所願,得生其國。為諸菩薩、聲聞之眾,所共歎譽,稱其功德。至其最後得佛道時,普為十方諸佛菩薩歎其光明,亦如今也。佛言:我說無量壽佛光明威神,巍巍殊妙,晝夜一劫,尚未能盡。佛語阿難:又無量壽佛,壽命長久,不可稱計,汝寧知乎?假使十方世界無量眾生,皆得人身,悉令成就聲聞、緣覺,都共集會,禪思一心,竭其智力,於百千萬劫,悉共推算,計其壽命長遠之數,不能窮盡,知其限極。
Phật cáo A Nan: - Vô Lượng Thọ Phật, oai thần quang minh, tối tôn đệ nhất, chư Phật quang minh, sở bất năng cập, hoặc chiếu bách Phật thế giới, hoặc thiên Phật thế giới. Thủ yếu ngôn chi, nãi chiếu Đông phương hằng sa Phật sát. Nam, Tây, Bắc phương, tứ duy, thượng hạ, diệc phục như thị. Hoặc hữu Phật quang chiếu ư thất xích, hoặc nhất do-tuần, nhị, tam, tứ, ngũ do-tuần, như thị chuyển bội, nãi chí chiếu nhất Phật sát. Thị cố Vô Lượng Thọ Phật, hiệu Vô Lượng Quang Phật, Vô Biên Quang Phật, Vô Ngại Quang Phật, Vô Đối Quang Phật, Viêm Vương Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật, Hoan Hỷ Quang Phật, Trí Huệ Quang Phật, Bất Đoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật, Vô Xưng Quang Phật, Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật. Kỳ hữu chúng sanh ngộ tư quang giả, tam cấu tiêu diệt, thân ý nhu nhuyễn, hoan hỷ dũng dược, thiện tâm sanh yên. Nhược tại tam đồ cực khổ chi xứ, kiến thử quang minh, giai đắc hưu tức, vô phục khổ não. Thọ chung chi hậu, giai mông giải thoát. Vô Lượng Thọ Phật, quang minh hiển hách, chiếu diệu thập phương. Chư Phật quốc độ, mạc bất văn yên. Bất đản ngã kim xưng kỳ quang minh, nhất thiết chư Phật, Thanh Văn, Duyên Giác, chư Bồ Tát chúng, hàm cộng thán dự, diệc phục như thị. Nhược hữu chúng sanh, văn kỳ quang minh oai thần công đức, nhật dạ xưng thuyết, chí tâm bất đoạn, tùy ý sở nguyện, đắc sanh kỳ quốc, vị chư Bồ Tát, Thanh Văn chi chúng, sở cộng thán dự, xưng kỳ công đức. Chí kỳ tối hậu đắc Phật đạo thời, phổ vị thập phương chư Phật, Bồ Tát thán kỳ quang minh, diệc như kim dã. Phật ngôn: - Ngã thuyết Vô Lượng Thọ Phật quang minh oai thần, nguy nguy thù diệu, trú dạ nhất kiếp, thượng vị năng tận. Phật ngữ A Nan: - Hựu Vô Lượng Thọ Phật, thọ mạng trường cửu bất khả xưng kế, nhữ ninh tri hồ? Giả sử thập phương thế giới vô lượng chúng sanh, giai đắc nhân thân, tất linh thành tựu Thanh Văn, Duyên Giác, đô cộng tập hội, thiền tư nhất tâm, kiệt kỳ trí lực, ư bách thiên vạn kiếp, tất cộng suy toán, kế kỳ thọ mạng trường viễn chi số, bất năng cùng tận, tri kỳ hạn cực.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Vô Lượng Thọ Phật oai thần quang minh tôn quý bậc nhất, quang minh của chư Phật đều chẳng thể sánh bằng, hoặc chiếu một trăm thế giới Phật, hoặc một ngàn thế giới Phật. Nói chung, có thể chiếu hằng sa cõi Phật ở phương Đông, phương Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên dưới, cũng giống như thế. Hoặc có Phật quang chiếu xa bảy thước, hoặc một do-tuần, hai, ba, bốn, năm do-tuần, lần lượt gấp nhiều lần như thế, cho đến chiếu thấu một cõi Phật. Vì thế, Vô Lượng Thọ Phật hiệu là Vô Lượng Quang Phật, Vô Biên Quang Phật, Vô Ngại Quang Phật, Vô Đối Quang Phật, Viêm Vương Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật, Hoan Hỷ Quang Phật, Trí Huệ Quang Phật, Bất Đoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật, Vô Xưng Quang Phật, Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật. Nếu có chúng sanh gặp quang minh ấy, Tam Cấu tiêu diệt, thân ý mềm mại, hoan hỷ, hớn hở, thiện tâm sanh khởi. Nếu ở trong chỗ tam đồ khổ sở cùng cực, thấy quang minh ấy đều được nghỉ ngơi không còn khổ não. Sau khi thọ chung đều được giải thoát. Vô Lượng Thọ Phật quang minh sáng rực, chiếu ngời mười phương. Các cõi nước của chư Phật không ai chẳng nghe thấy. Không chỉ riêng ta nay khen ngợi quang minh của Ngài, mà hết thảy chư Phật, Thanh Văn, Duyên Giác, các vị Bồ Tát đều cùng khen ngợi, cũng giống như thế. Nếu có chúng sanh nghe oai thần và công đức nơi quang minh của Ngài, ngày đêm xưng nói, chí tâm chẳng ngơi, tùy theo ý nguyện, được sanh về nước ấy, được các vị Bồ Tát và Thanh Văn đều cùng khen ngợi, xưng dương công đức của người ấy. Cho đến cuối cùng, khi thành Phật đạo, sẽ được khắp mười phương chư Phật, Bồ Tát tán thán quang minh [của vị Phật ấy] cũng giống như [chư Phật, Bồ Tát đang tán thán quang minh của A Di Đà Phật] trong hiện thời. Đức Phật nói: - Ta nói quang minh và oai thần lồng lộng đặc biệt nhiệm mầu của Vô Lượng Thọ Phật dẫu nói suốt ngày đêm trọn cả một kiếp vẫn chưa thể nói hết. Đức Phật bảo ngài A Nan: - Hơn nữa, Vô Lượng Thọ Phật thọ mạng lâu dài chẳng thể tính kể, ông có biết hay không? Giả sử vô lượng chúng sanh trong mười phương thế giới đều được làm thân người, thảy đều thành tựu Thanh Văn, Duyên Giác đều cùng nhóm họp lại, Thiền Định nhất tâm, dốc cạn hết trí lực trong trăm ngàn vạn kiếp, đều cùng nhau suy lường, tính toán để tìm ra số lượng của thọ mạng dài lâu ấy, vẫn chẳng thể cùng tận, biết được ngằn hạn ấy.

聲聞菩薩天人之眾,壽命長短,亦復如是,非算數譬喻所能知也。又聲聞菩薩,其數難量,不可稱說。神智洞達,威力自在,能於掌中,持一切世界。佛語阿難:彼佛初會聲聞眾數不可稱計,菩薩亦然。如大目犍連,百千萬億無量無數,於阿僧祇那由他劫,乃至滅度,悉共計校,不能究了多少之數。譬如大海,深廣無量。假使有人析其一毛,以為百分,以一分毛,沾取一渧,於意云何?其所渧者,於彼大海,何所為多?阿難白佛:彼所渧水,比於大海多少之量,非巧歷算數言辭譬類所能知也。佛語阿難:如目連等,於百千萬億那由他劫,計彼初會聲聞菩薩,所知數者,猶如一渧,其所不知,如大海水。
Thanh Văn, Bồ Tát, thiên nhân chi chúng, thọ mạng trường đoản, diệc phục như thị, phi toán số thí dụ sở năng tri dã. Hựu Thanh Văn, Bồ Tát, kỳ số nan lượng, bất khả xưng thuyết. Thần trí đỗng đạt, oai lực tự tại, năng ư chưởng trung, trì nhất thiết thế giới. Phật ngữ A Nan: “Bỉ Phật sơ hội Thanh Văn chúng số bất khả xưng kế, Bồ Tát diệc nhiên. Như Đại Mục Kiền Liên, bách thiên vạn ức vô lượng vô số, ư A-tăng-kỳ na-do-tha kiếp, nãi chí diệt độ, tất cộng kế giảo, bất năng cứu liễu đa thiểu chi số. Thí như đại hải, thâm quảng vô lượng, giả sử hữu nhân tích kỳ nhất mao, dĩ vi bách phần, dĩ nhất phần mao, triêm thủ nhất trích, ư ý vân hà? Kỳ sở trích giả, ư bỉ đại hải, hà sở vi đa?” A Nan bạch Phật: “Bỉ sở trích thủy, tỷ ư đại hải đa thiểu chi lượng, phi xảo lịch toán số ngôn từ thí loại sở năng tri dã”. Phật ngữ A Nan: “Như Mục Liên đẳng, ư bách thiên vạn ức na-do-tha kiếp, kế bỉ sơ hội Thanh Văn, Bồ Tát, sở tri số giả, do như nhất trích. Kỳ sở bất tri, như đại hải thủy”.
Các vị Thanh Văn, Bồ Tát, trời người, thọ mạng dài ngắn cũng giống như thế, chẳng thể dùng toán số, thí dụ để có thể biết được! Hơn nữa, số lượng Thanh Văn, Bồ Tát khó thể tính toán, chẳng thể nói kể. Các Ngài thần trí hiểu thông suốt, oai lực tự tại, có thể cầm hết thảy các thế giới trong lòng bàn tay. Đức Phật bảo ngài A Nan: “Số lượng các vị Thanh Văn trong hội đầu tiên của đức Phật ấy chẳng thể tính kể, Bồ Tát cũng thế. [Những vị có đại thần thông và trí huệ] như ngài Đại Mục Kiền Liên [số lượng nhiều đến] trăm ngàn vạn ức vô lượng vô số, trong A-tăng-kỳ na-do-tha kiếp cho đến khi diệt độ, đều cùng nhau tính toán, so sánh, chẳng thể hiểu rõ rốt ráo số lượng là bao nhiêu. Ví như biển cả rộng sâu vô lượng, giả sử có người chẻ một sợi lông thành một trăm phần, dùng một phần lông ấy thấm lấy một giọt [nước biển], ý ông nghĩ sao? Lượng nước đã được thấm ấy so với biển cả, chỗ nào là nhiều?” Ngài A Nan bạch Phật: “Số lượng nước đã được thấm ấy so sánh với biển cả nhiều hay ít thì chẳng thể do khéo léo dùng toán số, ngôn từ, thí dụ… mà hòng biết được!” Đức Phật bảo ngài A Nan: “Những người như Mục Liên trong trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp tính toán [số lượng] Thanh Văn, Bồ Tát trong hội đầu tiên, số lượng họ biết được giống như một giọt [nước biển], còn số không biết thì như nước trong biển cả”.

又其國土,七寶諸樹,周滿世界。金樹、銀樹、瑠璃樹、玻瓈樹、珊瑚樹、碼碯樹、硨磲之樹。或有二寶、三寶,乃至七寶,轉共合成;或有金樹,銀葉華果;或有銀樹,金葉華果;或瑠璃樹,玻瓈為葉,華果亦然;或水精樹,瑠璃為葉,華果亦然;或珊瑚樹,碼碯為葉,華果亦然;或碼碯樹,瑠璃為葉,華果亦然;或硨磲樹,眾寶為葉,華果亦然;或有寶樹,紫金為本,白銀為莖,瑠璃為枝,水精為條,珊瑚為葉,碼碯為華,硨磲為實;或有寶樹,白銀為本,瑠璃為莖,水精為枝,珊瑚為條,碼碯為葉,硨磲為華,紫金為實;或有寶樹,瑠璃為本,水精為莖,珊瑚為枝,碼碯為條,硨磲為葉,紫金為華,白銀為實;或有寶樹,水精為本,珊瑚為莖,碼碯為枝,硨磲為條,紫金為葉,白銀為華,瑠璃為實;或有寶樹,珊瑚為本,碼碯為莖,硨磲為枝,紫金為條,白銀為葉,瑠璃為華,水精為實;或有寶樹,碼碯為本,硨磲為莖,紫金為枝,白銀為條,瑠璃為葉,水精為華,珊瑚為實;或有寶樹,硨磲為本,紫金為莖,白銀為枝,瑠璃為條,水精為葉,珊瑚為華,碼碯為實。行行相值,莖莖相望,枝枝相準,葉葉相向,華華相順,實實相當。榮色光曜,不可勝視。清風時發,出五音聲,微妙宮商,自然相和。又無量壽佛,其道場樹,高四百萬里。其本周圍五千由旬,枝葉四布二十萬里,一切眾寶自然合成,以月光摩尼持海輪寶,眾寶之王,而莊嚴之。周帀條間,垂寶瓔珞,百千萬色,種種異變,無量光炎,照曜無極。珍妙寶網,羅覆其上。一切莊嚴,隨應而現。微風徐動,吹諸寶樹,演出無量妙法音聲。其聲流布,徧諸佛國。聞其音者,得深法忍,住不退轉,至成佛道,耳根清徹,不遭苦患。目覩其色,鼻知其香,口嘗其味,身觸其光,心以法緣,皆得甚深法忍,住不退轉,至成佛道,六根清徹,無諸惱患。阿難!若彼國土天人,見此樹者,得三法忍:一者音響忍,二者柔順忍,三者無生法忍。此皆無量壽佛威神力故,本願力故,滿足願故,明了願故,堅固願故,究竟願故。佛告阿難:世間帝王,有百千音樂,自轉輪聖王,乃至第六天上,伎樂音聲,展轉相勝千億萬倍。第六天上萬種樂音,不如無量壽國諸七寶樹一種音聲千億倍也!
Hựu kỳ quốc độ, thất bảo chư thụ, châu mãn thế giới. Kim thụ, ngân thụ, lưu ly thụ, pha lê thụ, san hô thụ, mã não thụ, xa cừ chi thụ; hoặc hữu nhị bảo, tam bảo, nãi chí thất bảo, chuyển cộng hợp thành; hoặc hữu kim thụ, ngân diệp hoa quả; hoặc hữu ngân thụ, kim diệp hoa quả; hoặc lưu ly thụ, pha lê vi diệp, hoa quả diệc nhiên; hoặc thủy tinh thụ, lưu ly vi diệp, hoa quả diệc nhiên; hoặc san hô thụ, mã não vi diệp, hoa quả diệc nhiên; hoặc mã não thụ, lưu ly vi diệp, hoa quả diệc nhiên; hoặc xa cừ thụ, chúng bảo vi diệp, hoa quả diệc nhiên; hoặc hữu bảo thụ, tử kim vi bổn, bạch ngân vi hành, lưu ly vi chi, thủy tinh vi điều, san hô vi diệp, mã não vi hoa, xa cừ vi thật; hoặc hữu bảo thụ, bạch ngân vi bổn, lưu ly vi hành, thủy tinh vi chi, san hô vi điều, mã não vi diệp, xa cừ vi hoa, tử kim vi thật; hoặc hữu bảo thụ, lưu ly vi bổn, thủy tinh vi hành, san hô vi chi, mã não vi điều, xa cừ vi diệp, tử kim vi hoa, bạch ngân vi thật; hoặc hữu bảo thụ, thủy tinh vi bổn, san hô vi hành, mã não vi chi, xa cừ vi điều, tử kim vi diệp, bạch ngân vi hoa, lưu ly vi thật; hoặc hữu bảo thụ, san hô vi bổn, mã não vi hành, xa cừ vi chi, tử kim vi điều, bạch ngân vi diệp, lưu ly vi hoa, thủy tinh vi thật; hoặc hữu bảo thụ, mã não vi bổn, xa cừ vi hành, tử kim vi chi, bạch ngân vi điều, lưu ly vi diệp, thủy tinh vi hoa, san hô vi thật; hoặc hữu bảo thụ, xa cừ vi bổn, tử kim vi hành, bạch ngân vi chi, lưu ly vi điều, thủy tinh vi diệp, san hô vi hoa, mã não vi thật. Hàng hàng tương trị, hành hành tương vọng, chi chi tương chuẩn, diệp diệp tương hướng, hoa hoa tương thuận, thật thật tương đương, vinh sắc quang diệu, bất khả thắng thị. Thanh phong thời phát, xuất ngũ âm thanh, vi diệu cung thương, tự nhiên tương hòa. Hựu Vô Lượng Thọ Phật, kỳ đạo tràng thụ, cao tứ bách vạn lý. Kỳ bổn châu vi ngũ thiên do-tuần, chi diệp tứ bố nhị thập vạn lý, nhất thiết chúng bảo tự nhiên hợp thành. Dĩ nguyệt quang ma-ni, trì hải luân bảo, chúng bảo chi vương, nhi trang nghiêm chi. Châu táp điều gian, thùy bảo anh lạc, bách thiên vạn sắc, chủng chủng dị biến. Vô lượng quang viêm, chiếu diệu vô cực. Trân diệu bảo võng, la phú kỳ thượng. Nhất thiết trang nghiêm, tùy ứng nhi hiện. Vi phong từ động, xuy chư bảo thụ, diễn xuất vô lượng diệu pháp âm thanh. Kỳ thanh lưu bố, biến chư Phật quốc. Văn kỳ âm giả, đắc thâm Pháp Nhẫn, trụ Bất Thoái Chuyển, chí thành Phật đạo, nhĩ căn thanh triệt, bất tao khổ hoạn. Mục đổ kỳ sắc, tỵ tri kỳ hương, khẩu thường kỳ vị, thân xúc kỳ quang, tâm dĩ pháp duyên, giai đắc thậm thâm Pháp Nhẫn, trụ Bất Thoái Chuyển, chí thành Phật đạo, lục căn thanh triệt, vô chư não hoạn. A Nan! Nhược bỉ quốc độ thiên nhân, kiến thử thụ giả, đắc tam Pháp Nhẫn, nhất giả Âm Hưởng Nhẫn, nhị giả Nhu Thuận Nhẫn, tam giả Vô Sanh Pháp Nhẫn. Thử giai Vô Lượng Thọ Phật oai thần lực cố, bổn nguyện lực cố, mãn túc nguyện cố, minh liễu nguyện cố, kiên cố nguyện cố, cứu cánh nguyện cố. Phật cáo A Nan: - Thế gian đế vương, hữu bách thiên âm nhạc, tự Chuyển Luân Thánh Vương, nãi chí đệ lục thiên thượng, kỹ nhạc, âm thanh, triển chuyển tương thắng thiên ức vạn bội. Đệ lục thiên thượng vạn chủng nhạc âm, bất như Vô Lượng Thọ quốc chư thất bảo thụ nhất chủng âm thanh thiên ức bội dã!
Lại nữa cõi nước ấy, các cây bảy báu đầy khắp thế giới. Cây vàng, cây bạc, cây lưu ly, cây pha lê, cây san hô, cây mã não, cây xa cừ. Hoặc có cây bằng hai thứ báu, ba thứ báu, cho đến bảy thứ báu, lần lượt cùng ghép thành. Hoặc có cây bằng vàng, lá, hoa, quả bằng bạc. Hoặc có cây bằng bạc, lá, hoa, quả bằng vàng. Hoặc có cây lưu ly, lá bằng pha lê, hoa quả cũng thế. Hoặc cây bằng thủy tinh, lưu ly làm lá, hoa, quả cũng thế. Hoặc cây bằng san hô, mã não làm lá, hoa quả cũng thế. Hoặc cây bằng mã não, lưu ly làm lá, hoa quả cũng thế. Hoặc cây bằng xa cừ, các thứ báu làm lá, hoa quả cũng thế. Hoặc có cây báu, tử kim làm gốc, bạch ngân làm thân, lưu ly làm cành, thủy tinh làm nhánh, san hô làm lá, mã não làm hoa, xa cừ làm quả. Hoặc có cây báu, bạch ngân làm gốc, lưu ly làm thân, thủy tinh làm cành, san hô làm nhánh, mã não làm lá, xa cừ làm hoa, tử kim làm quả. Hoặc có cây báu, lưu ly làm gốc, thủy tinh làm thân, san hô làm cành, mã não làm nhánh, xa cừ làm lá, tử kim làm hoa, bạch ngân làm quả. Hoặc có cây báu, thủy tinh làm gốc, san hô làm thân, mã não làm cành, xa cừ làm nhánh, tử kim làm lá, bạch ngân làm hoa, lưu ly làm quả. Hoặc có cây báu, san hô làm gốc, mã não làm thân, xa cừ làm cành, tử kim làm nhánh, bạch ngân làm lá, lưu ly làm hoa, thủy tinh làm quả. Hoặc có cây báu, mã não làm gốc, xa cừ làm thân, tử kim làm cành, bạch ngân làm nhánh, lưu ly làm lá, thủy tinh làm hoa, san hô làm quả. Hoặc có cây báu, xa cừ làm gốc, tử kim làm thân, bạch ngân làm cành, lưu ly làm nhánh, thủy tinh làm lá, san hô làm hoa, mã não làm quả. Từng hàng cây ngang nhau, từng thân cây đối nhau, từng cành ngang nhau, từng lá hướng vào nhau, từng hoa thuận với nhau, từng trái to bằng nhau, màu sắc rạng rỡ, chói ngời, chẳng thể nhìn trọn. Gió mát đúng thời thổi qua, vang ra tiếng ngũ âm, réo rắt vi diệu, tự nhiên hòa hợp. Lại nữa, cây đạo tràng của Vô Lượng Thọ Phật cao bốn trăm vạn dặm. Gốc cây ấy có chu vi to năm ngàn do-tuần, cành lá xòe ra bốn phía đến hai mươi vạn dặm, do hết thảy các thứ báu tự nhiên hợp thành, dùng nguyệt quang ma-ni và trì hải luân bảo là vua trong các thứ báu để trang nghiêm. Chung quanh giữa các nhánh, treo rủ các thứ chuỗi anh lạc báu, trăm ngàn vạn sắc, đủ thứ biến hiện khác lạ. Vô lượng tia sáng rực rỡ chói ngời chẳng cùng cực. Lưới báu quý đẹp giăng phủ bên trên. Hết thảy trang nghiêm thuận lòng ứng hiện. Gió nhẹ thong thả thổi, lùa qua các cây báu, diễn xuất vô lượng âm thanh diệu pháp. Âm thanh ấy lan truyền trọn khắp các cõi Phật. Người nghe âm thanh ấy sẽ đắc Pháp Nhẫn sâu, trụ nơi Bất Thoái Chuyển, cho đến khi thành Phật đạo, tai nghe rõ ràng, thấu triệt, chẳng gặp tiếng khổ sở, hoạn nạn. Mắt trông thấy màu sắc của cây ấy, mũi ngửi hương của nó, miệng nếm vị của nó, thân chạm phải ánh sáng của nó, tâm duyên theo pháp, đều đắc Pháp Nhẫn rất sâu, trụ Bất Thoái Chuyển. Cho đến khi thành Phật đạo, sáu căn trong trẻo, không có các thứ não hoạn. Này A Nan! Nếu trời người trong cõi nước ấy trông thấy cây đó, sẽ đắc ba món Pháp Nhẫn, một là Âm Hưởng Nhẫn, hai là Nhu Thuận Nhẫn, ba là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Những điều này đều do sức oai thần, sức bổn nguyện, do thỏa mãn trọn vẹn nguyện cũ, do nguyện hiểu rành rẽ, do nguyện kiên cố, do nguyện rốt ráo của Vô Lượng Thọ Phật. Đức Phật bảo ngài A Nan: - Đế vương trong thế gian có trăm ngàn thứ âm nhạc. Từ Chuyển Luân Thánh Vương cho đến trên cõi trời thứ sáu, kỹ nhạc và âm thanh lần lượt thù thắng hơn trước ngàn vạn ức lần. Muôn thứ tiếng nhạc nơi tầng trời thứ sáu chẳng bằng một phần ngàn ức lần của một loại âm thanh phát ra từ các cây bảy báu trong cõi Vô Lượng Thọ.

亦有自然萬種伎樂。又其樂聲,無非法音。清暢哀亮,微妙和雅,十方世界音聲之中,最為第一。
Diệc hữu tự nhiên vạn chủng kỹ nhạc. Hựu kỳ nhạc thanh, vô phi pháp âm, thanh sướng ai lượng, vi diệu hòa nhã, thập phương thế giới âm thanh chi trung, tối vi đệ nhất.
Cũng có muôn thứ kỹ nhạc tự nhiên. Lại nữa, tiếng nhạc ấy không gì chẳng phải là pháp âm, thanh tịnh, du dương, êm ái, réo rắt, vi diệu hòa nhã, là bậc nhất trong các âm thanh của mười phương thế giới.

其講堂、精舍、宮殿、樓觀,皆七寶莊嚴,自然化成。復以真珠、明月、摩尼、眾寶,以為交絡,覆蓋其上。
Kỳ giảng đường, tinh xá, cung điện, lâu quán, giai thất bảo trang nghiêm, tự nhiên hóa thành. Phục dĩ chân châu, minh nguyệt, ma-ni, chúng bảo, dĩ vi giao lạc, phú cái kỳ thượng.
Giảng đường, tinh xá, cung điện, lầu gác trong cõi ấy đều trang nghiêm bằng bảy báu, tự nhiên hóa thành. Lại dùng chân châu, minh nguyệt, ma-ni, các thứ báu để giăng xen, che phủ trên đó.

內外左右,有諸浴池,或十由旬,或二十、三十,乃至百千由旬。縱廣深淺,皆各一等。八功德水,湛然盈滿,清淨香潔,味如甘露。黃金池者,底白銀沙;白銀池者,底黃金沙;水精池者,底瑠璃沙;瑠璃池者,底水精沙;珊瑚池者,底琥珀沙;琥珀池者,底珊瑚沙;硨磲池者,底碼碯沙;碼碯池者,底硨磲沙;白玉池者,底紫金沙;紫金池者,底白玉沙。或有二寶三寶,乃至七寶,轉共合成。其池岸上,有栴檀樹,華葉垂布,香氣普熏。天優鉢羅華、鉢曇摩華、拘牟頭華、分陀利華,雜色光茂,彌覆水上。彼諸菩薩,及聲聞眾,若入寶池,意欲令水沒足,水即沒足;欲令至膝,即至於膝;欲令至腰,水即至腰;欲令至頸,水即至頸;欲令灌身,自然灌身;欲令還復,水輒還復。調和冷暖,自然隨意。開神悅體,蕩除心垢。清明澄潔,淨若無形。寶沙映徹,無深不照。微瀾迴流,轉相灌注。安詳徐逝,不遲不疾。波揚無量自然妙聲,隨其所應,莫不聞者。或聞佛聲,或聞法聲,或聞僧聲,或寂靜聲,空無我聲,大慈悲聲,波羅蜜聲,或十力、無畏、不共法聲,諸通慧聲,無所作聲,不起滅聲,無生忍聲,乃至甘露灌頂,眾妙法聲。如是等聲,稱其所聞,歡喜無量。隨順清淨離欲寂滅真實之義,隨順三寶、力、無所謂不共之法,隨順通慧菩薩聲聞所行之道。無有三塗苦難之名,但有自然快樂之音。是故其國,名曰安樂。
Nội ngoại tả hữu, hữu chư dục trì, hoặc thập do-tuần, hoặc nhị thập, tam thập, nãi chí bách thiên do-tuần. Tung quảng thâm thiển, giai các nhất đẳng. Bát công đức thủy, trạm nhiên doanh mãn, thanh tịnh hương khiết, vị như cam lộ. Hoàng kim trì giả, để bạch ngân sa; bạch ngân trì giả, để hoàng kim sa; thủy tinh trì giả, để lưu ly sa; lưu ly trì giả, để thủy tinh sa; san hô trì giả, để hổ phách sa; hổ phách trì giả, để san hô sa; xa cừ trì giả, để mã não sa; mã não trì giả, để xa cừ sa; bạch ngọc trì giả, để tử kim sa; tử kim trì giả, để bạch ngọc sa. Hoặc hữu nhị bảo, tam bảo, nãi chí thất bảo, chuyển cộng hợp thành. Kỳ trì ngạn thượng, hữu Chiên Đàn thụ, hoa diệp thùy bố, hương khí phổ huân. Thiên Ưu-bát-la hoa, Bát-đàm-ma hoa, Câu-mâu-đầu hoa, Phân-đà-lợi hoa, tạp sắc quang mậu, di phú thủy thượng. Bỉ chư Bồ Tát, cập Thanh Văn chúng, nhược nhập bảo trì, ý dục linh thủy một túc, thủy tức một túc; dục linh chí tất, tức chí ư tất; dục linh chí yêu, thủy tức chí yêu; dục linh chí cảnh, thủy tức chí cảnh; dục linh quán thân, tự nhiên quán thân; dục linh hoàn phục, thủy triếp hoàn phục. Điều hòa lãnh noãn, tự nhiên tùy ý. Khai thần duyệt thể, đãng trừ tâm cấu. Thanh minh trừng khiết, tịnh nhược vô hình. Bảo sa ánh triệt, vô thâm bất chiếu. Vi lan hồi lưu, chuyển tương quán chú. An tường từ thệ, bất trì, bất tật. Ba dương vô lượng tự nhiên diệu thanh, tùy kỳ sở ứng, mạc bất văn giả, hoặc văn Phật thanh, hoặc văn Pháp thanh, hoặc văn Tăng thanh, hoặc tịch tĩnh thanh, Không, Vô Ngã thanh, đại từ bi thanh, Ba La Mật thanh, hoặc Thập Lực, Vô Úy, Bất Cộng Pháp thanh, chư thông huệ thanh, vô sở tác thanh, bất khởi diệt thanh, Vô Sanh Nhẫn thanh, nãi chí cam lộ quán đảnh, chúng diệu pháp thanh. Như thị đẳng thanh, xứng kỳ sở văn, hoan hỷ vô lượng. Tùy thuận thanh tịnh ly dục tịch diệt chân thật chi nghĩa, tùy thuận Tam Bảo, lực, vô sở vị bất cộng chi pháp, tùy thuận thông huệ Bồ Tát, Thanh Văn sở hành chi đạo. Vô hữu tam đồ khổ nạn chi danh, đản hữu tự nhiên khoái lạc chi âm. Thị cố kỳ quốc, danh viết An Lạc.
Trong, ngoài, trái, phải, có các ao tắm, hoặc là mười do-tuần, hoặc hai mươi, ba mươi, cho đến trăm ngàn do-tuần. Ngang, dọc, sâu, cạn đều cùng một loại. Nước tám công đức lắng trong đầy ắp, thanh tịnh, thơm, sạch, vị như cam lộ. Ao vàng ròng, đáy trải cát bạc trắng. Ao bạc trắng, đáy trải cát vàng ròng. Ao thủy tinh, đáy trải cát lưu ly. Ao lưu ly, đáy trải cát thủy tinh. Ao san hô, đáy trải cát hổ phách. Ao hổ phách, đáy trải cát san hô. Ao xa cừ, đáy trải cát mã não. Ao mã não, đáy trải cát xa cừ. Ao bạch ngọc, đáy trải cát vàng tía. Ao vàng tía, đáy trải cát bạch ngọc. Hoặc có hai thứ báu, ba thứ báu, cho đến bảy báu, lần lượt cùng hợp thành. Trên bờ ao, có cây Chiên Đàn, hoa lá che rủ, mùi hương xông khắp. Hoa trời Ưu-bát-la, hoa Bát-đàm-ma, hoa Câu-mâu-đầu, hoa Phân-đà-lợi, nhiều màu rạng rỡ, tươi tốt, che kín mặt nước. Các vị Bồ Tát và Thanh Văn ấy, nếu vào ao báu, ý muốn nước ngập chân, nước liền ngập chân. Muốn nước đến gối, liền ngập đến gối. Muốn ngập đến eo, nước liền ngập đến eo. Muốn ngập tới cổ, nước liền ngập tới cổ. Muốn nước xối thân, tự nhiên xối thân. Muốn nước trở lại như cũ, nước liền trở lại. Lạnh ấm điều hòa, tự nhiên tùy ý, sảng khoái tinh thần, thân thể thư thái, gột sạch cấu nhơ trong tâm. Nước trong sáng, lặng sạch, thanh tịnh dường như vô hình. Cát báu chiếu rực, dẫu sâu cách mấy vẫn soi thấu. Sóng nhẹ lan vòng quanh, lần lượt tưới rót lẫn nhau, an tường thong thả chảy đi, chẳng chậm, chẳng nhanh. Sóng vỗ phát ra vô lượng âm thanh mầu nhiệm tự nhiên, ứng hiện tùy thuận, không ai chẳng nghe tiếng, hoặc nghe tiếng Phật, hoặc nghe tiếng Pháp, hoặc nghe tiếng Tăng, hoặc tiếng tịch tĩnh, tiếng Không, Vô Ngã, tiếng đại từ bi, tiếng Ba La Mật, hoặc tiếng Thập Lực, Vô Úy, Bất Cộng Pháp, tiếng các thông huệ, tiếng vô sở tác, tiếng chẳng khởi diệt, tiếng Vô Sanh Nhẫn, cho đến tiếng cam lộ quán đảnh, các thứ diệu pháp. Những tiếng như vậy, xứng ý người nghe, [khiến cho họ] hoan hỷ vô lượng, tùy thuận ý nghĩa thanh tịnh ly dục tịch diệt chân thật, tùy thuận Tam Bảo, lực, không gì chẳng nói về pháp bất cộng, tùy thuận đạo được hành bởi bậc thông huệ Bồ Tát, Thanh Văn, chẳng có tiếng tam đồ khổ nạn, chỉ có âm thanh tự nhiên vui sướng. Do vậy, cõi nước ấy có tên là An Lạc.

阿難!彼佛國土,諸往生者,具足如是清淨色身,諸妙音聲,神通功德。
A Nan! Bỉ Phật quốc độ, chư vãng sanh giả, cụ túc như thị thanh tịnh sắc thân, chư diệu âm thanh, thần thông, công đức.
Này A Nan! Những người vãng sanh quốc độ của đức Phật ấy trọn đủ sắc thân thanh tịnh, các âm thanh, thần thông, công đức mầu nhiệm như thế.

所處宮殿,衣服飲食,眾妙華香,莊嚴之具,猶第六天自然之物。若欲食時,七寶鉢器,自然在前。金、銀、瑠璃、硨磲、碼碯、珊瑚、琥珀、明月、真珠,如是諸鉢,隨意而至。百味飲食,自然盈滿。雖有此食,實無食者。但見色聞香,意以為食,自然飽足。身心柔輭,無所味著,事已化去,時至復現。彼佛國土,清淨安隱,微妙快樂,次於無為泥洹之道。
Sở xử cung điện, y phục, ẩm thực, chúng diệu hoa hương, trang nghiêm chi cụ, do đệ lục thiên tự nhiên chi vật. Nhược dục thực thời, thất bảo bát khí, tự nhiên tại tiền: Kim, ngân, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, minh nguyệt, chân châu, như thị chư bát, tùy ý nhi chí. Bách vị ẩm thực, tự nhiên doanh mãn. Tuy hữu thử thực, thật vô thực giả, đản kiến sắc văn hương, ý dĩ vi thực, tự nhiên bão túc, thân tâm nhu nhuyễn, vô sở vị trước. Sự dĩ hóa khứ, thời chí phục hiện. Bỉ Phật quốc độ, thanh tịnh an ổn, vi diệu khoái lạc, thứ ư vô vi Nê Hoàn chi đạo.
Cung điện để ở, quần áo, thức ăn, các thứ hoa hương mầu nhiệm, các vật trang nghiêm giống như những vật tự nhiên trên tầng trời thứ sáu. Nếu như khi muốn ăn, chén bát bằng bảy báu tự nhiên ở trước mặt: Vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, minh nguyệt, chân châu, những thứ bát như vậy tùy ý hiện đến. Thức ăn trăm vị, tự nhiên đầy ắp. Tuy có những thức ăn ấy, thật ra chẳng có chuyện ăn, chỉ thấy sắc, ngửi hương, ý bèn nghĩ là đã ăn, tự nhiên no đủ, thân tâm mềm dịu, chẳng tham đắm mùi vị. Xong chuyện, chúng biến mất, đến thời lại hiện ra. Cõi nước Phật ấy thanh tịnh, an ổn, vui sướng vi diệu, chỉ thua đạo vô vi Nê Hoàn.

其諸聲聞、菩薩、天、人,智慧高明,神通洞達,咸同一類,形無異狀。但因順餘方,故有天人之名。顏貌端正,超世希有。容色微妙,非天非人。皆受自然虛無之身,無極之體。佛告阿難:譬如世間貧窮乞人,在帝王邊,形貌容狀,寧可類乎?阿難白佛:假令此人在帝王邊,羸陋醜惡,無以為喻,百千萬億不可計倍。所以然者,貧窮乞人,底極斯下,衣不蔽形,食趣支命,飢寒困苦,人理殆盡。皆坐前世不植德本,積財不施,富有益慳,但欲唐得,貪求無厭。不信修善,犯惡山積。如是壽終,財寶消散。苦身聚積,為之憂惱,於己無益,徒為他有。無善可怙,無德可恃,是故死墮惡趣,受此長苦。罪畢得出,生為下賤,愚鄙斯極,示同人類。所以世間帝王,人中獨尊,皆由宿世積德所致。慈惠博施,仁愛兼濟,履信修善,無所違爭。是以壽終福應,得升善道。上生天上,享茲福樂。積善餘慶,今得為人,乃生王家,自然尊貴。儀容端正,眾所敬事。妙衣珍饍,隨心服御。宿福所追,故能致此。佛告阿難:汝言是也!計如帝王,雖人中尊貴,形色端正,比之轉輪聖王,甚為鄙陋,猶彼乞人在帝王邊也。轉輪聖王,威相殊妙,天下第一。比之忉利天王,又復醜惡,不得相喻萬億倍也。假令天帝,比第六天王,百千億倍不相類也。設第六天王,比無量壽佛國菩薩聲聞,光顏容色,不相及逮,百千萬億不可計倍。
Kỳ chư Thanh Văn, Bồ Tát, thiên, nhân, trí huệ cao minh, thần thông đỗng đạt, hàm đồng nhất loại, hình vô dị trạng. Đản nhân thuận dư phương, cố hữu thiên nhân chi danh. Nhan mạo đoan chánh, siêu thế hy hữu, dung sắc vi diệu, phi thiên, phi nhân, giai thọ tự nhiên hư vô chi thân, vô cực chi thể. Phật cáo A Nan: - Thí như thế gian bần cùng khất nhân, tại đế vương biên, hình mạo dung trạng, ninh khả loại hồ? A Nan bạch Phật: - Giả linh thử nhân tại đế vương biên, luy lậu xú ác, vô dĩ vi dụ, bách thiên vạn ức bất khả kế bội. Sở dĩ nhiên giả? Bần cùng khất nhân, để cực tư hạ, y bất tế hình, thực thú chi mạng, cơ hàn khốn khổ, nhân lý đãi tận, giai tọa tiền thế bất thực đức bổn, tích tài bất thí, phú hữu ích xan, đản dục đường đắc, tham cầu vô yếm, bất tín tu thiện, phạm ác sơn tích. Như thị thọ chung, tài bảo tiêu tán, khổ thân tụ tích, vị chi ưu não, ư kỷ vô ích, đồ vi tha hữu. Vô thiện khả hỗ, vô đức khả thị. Thị cố tử đọa ác thú, thọ thử trường khổ. Tội tất đắc xuất, sanh vi hạ tiện, ngu bỉ tư cực, thị đồng nhân loại. Sở dĩ thế gian đế vương, nhân trung độc tôn, giai do túc thế tích đức sở trí, từ huệ bác thí, nhân ái kiêm tế, lý tín tu thiện, vô sở vi tranh. Thị dĩ thọ chung phước ứng, đắc thăng thiện đạo. Thượng sanh thiên thượng, hưởng tư phước lạc. Tích thiện dư khánh, kim đắc vi nhân, nãi sanh vương gia, tự nhiên tôn quý. Nghi dung đoan chánh, chúng sở kính sự, diệu y trân thiện, tùy tâm phục ngự. Túc phước sở truy, cố năng trí thử. Phật cáo A Nan: - Nhữ ngôn thị dã, kế như đế vương, tuy nhân trung tôn quý, hình sắc đoan chánh, tỷ chi Chuyển Luân Thánh Vương, thậm vi bỉ lậu, do bỉ khất nhân tại đế vương biên dã. Chuyển Luân Thánh Vương, oai tướng thù diệu, thiên hạ đệ nhất. Tỷ chi Đao Lợi Thiên Vương, hựu phục xú ác, bất đắc tương dụ vạn ức bội dã. Giả linh thiên đế, tỷ đệ lục thiên vương, bách thiên ức bội bất tương loại dã. Thiết đệ lục thiên vương tỷ Vô Lượng Thọ Phật quốc Bồ Tát, Thanh Văn, quang nhan dung sắc, bất tương cập đãi, bách thiên vạn ức bất khả kế bội!
Các vị Thanh Văn, Bồ Tát, trời người trí huệ cao minh, thần thông thấu suốt, đều cùng giống như nhau, hình dạng chẳng khác biệt. Nhưng do thuận theo các phương khác mà có danh xưng trời hay người. Dung mạo đoan chánh, vượt trỗi cõi đời, hiếm có, dung sắc vi diệu, chẳng phải trời, chẳng phải người, đều hưởng tấm thân tự nhiên, bản thể vô cực. Đức Phật bảo ngài A Nan: - Ví như kẻ nghèo cùng ăn mày trong thế gian, ở bên cạnh đế vương, hình dáng, dung mạo có thể giống như đế vương hay chăng? Ngài A Nan bạch Phật: - Giả sử người ấy ở bên cạnh đế vương, gầy còm, thô lậu, xấu ác chẳng thể sánh ví trăm ngàn vạn ức chẳng thể tính lần! Vì cớ sao vậy? Người ăn mày bần cùng ấy, thấp kém tận cùng, áo chẳng đủ che thân, cơm chỉ giữ được cái mạng, đói rét khốn khổ, gần như hết sạch lẽ sống, đều là do đời trước chẳng vun trồng cội đức, chất chứa tài vật chẳng bố thí, giàu có mà càng thêm keo kiệt, chỉ muốn đạt được mà chẳng tốn công sức, tham cầu chẳng chán, chẳng tin vào tu thiện, phạm điều ác chất chứa như núi. Kẻ như vậy chết đi, tiền tài, của báu tiêu tán. Khổ sở tích tụ, lo sầu, áo não vì những của cải ấy, vô ích cho chính mình, uổng công để cho người khác hưởng, chẳng có điều thiện để trông cậy, chẳng có đức để nương nhờ. Vì thế, chết đi đọa vào đường ác, chịu đựng nỗi khổ ấy dài lâu. Tội đã hết mới thoát ra, sanh làm kẻ hạ tiện, ngu si, quê kệch cùng cực, từa tựa như con người. Bởi lẽ, đế vương trong thế gian là bậc độc tôn trong loài người, đều do đã tích đức trong đời trước mà ra, lòng Từ san sẻ, bố thí rộng rãi, có lòng nhân ái cứu giúp, noi theo lòng tin mà tu điều lành, chẳng chống trái, cạnh tranh gì. Do vậy, khi hết tuổi thọ, đáng theo phước mà được tiến lên đường lành, sanh lên cõi trời, hưởng phước lạc ấy. Do niềm vui có thừa của những điều lành đã tích lũy, nay được làm thân người, bèn sanh trong nhà vua chúa, tự nhiên tôn quý, dung mạo, oai nghi đoan chánh, được mọi người kính trọng, phụng sự. Áo đẹp, cơm ngon, tùy lòng hưởng dụng. Do túc phước ruổi theo, nên có thể đạt được điều này. Đức Phật bảo ngài A Nan: - Ông nói đúng lắm! So ra đế vương tuy là tôn quý trong loài người, hình sắc đoan chánh, nhưng so với Chuyển Luân Thánh Vương, [đế vương] sẽ hết sức kém cỏi, thô lậu, giống như kẻ ăn mày ở bên cạnh đế vương vậy. Chuyển Luân Thánh Vương oai tướng thù thắng đặc biệt, là bậc nhất trong thiên hạ, đem so với Đao Lợi Thiên Vương, [Chuyển Luân Thánh Vương] lại là xấu ác, chẳng thể sánh ví vạn ức lần. Giả sử thiên đế so với thiên vương tầng trời thứ sáu, lại chẳng thể bằng một phần trong trăm ngàn ức lần. Giả sử thiên vương của tầng trời thứ sáu sánh với Bồ Tát hoặc Thanh Văn trong nước Vô Lượng Thọ thì vẻ mặt rạng rỡ, dung mạo đều chẳng sánh bằng một phần của trăm ngàn vạn ức chẳng thể tính lần!

佛告阿難:無量壽國,其諸天人,衣服、飲食、華香、瓔珞、繒蓋、幢旛、微妙音聲、所居舍宅、宮殿、樓閣,稱其形色,高下大小。或一寶二寶,乃至無量眾寶,隨意所欲,應念即至。又以眾寶妙衣,徧布其地,一切天人踐之而行。無量寶網,彌覆佛土,皆以金縷真珠,百千雜寶,奇妙珍異,莊嚴校飾。周帀四面,垂以寶鈴,光色晃曜,盡極嚴麗。自然德風,徐起微動。其風調和,不寒不暑,溫涼柔輭,不遲不疾。吹諸羅網,及眾寶樹,演發無量微妙法音,流布萬種溫雅德香。其有聞者,塵勞垢習,自然不起。風觸其身,皆得快樂,譬如比丘,得滅盡三昧。又風吹散華,徧滿佛土。隨色次第,而不雜亂。柔輭光澤,馨香芬烈。足履其上,蹈下四寸,隨舉足已,還復如故。華用已訖,地輒開裂,以次化沒,清淨無遺。隨其時節,風吹散華,如是六反。又眾寶蓮華,周滿世界,一一寶華,百千億葉。其華光明,無量種色。青色青光,白色白,玄黃朱紫,光色赫然。煒燁煥爛,明曜日月。一一華中,出三十六百千億光,一一光中,出三十六百千億佛,身色紫金,相好殊特。一一諸佛,又放百千光明,普為十方說微妙法。如是諸佛,各各安立無量眾生於佛正道。
Phật cáo A Nan: - Vô Lượng Thọ quốc, kỳ chư thiên nhân, y phục, ẩm thực, hoa hương, anh lạc, tăng cái, tràng phan, vi diệu âm thanh, sở cư xá trạch, cung điện, lâu các, xứng kỳ hình sắc, cao hạ đại tiểu. Hoặc nhất bảo, nhị bảo, nãi chí vô lượng chúng bảo, tùy ý sở dục, ứng niệm tức chí. Hựu dĩ chúng bảo diệu y, biến bố kỳ địa, nhất thiết thiên nhân tiễn chi nhi hành. Vô lượng bảo võng, di phú Phật độ, giai dĩ kim lũ chân châu, bách thiên tạp bảo, kỳ diệu trân dị, trang nghiêm hiệu sức. Châu táp tứ diện, thùy dĩ bảo linh, quang sắc hoảng diệu, tận cực nghiêm lệ. Tự nhiên đức phong, từ khởi vi động. Kỳ phong điều hòa, bất hàn, bất thử, ôn lương, nhu nhuyễn, bất trì, bất tật, xuy chư la võng, cập chúng bảo thụ, diễn phát vô lượng vi diệu pháp âm, lưu bố vạn chủng ôn nhã đức hương. Kỳ hữu văn giả, trần lao cấu tập, tự nhiên bất khởi. Phong xúc kỳ thân, giai đắc khoái lạc, thí như tỳ-kheo đắc Diệt Tận tam-muội. Hựu phong xuy tán hoa, biến mãn Phật độ. Tùy sắc thứ đệ, nhi bất tạp loạn. Nhu nhuyễn quang trạch, hinh hương phân liệt. Túc lý kỳ thượng, đạo hạ tứ thốn. Tùy cử túc dĩ, hoàn phục như cố. Hoa dụng dĩ ngật, địa triếp khai liệt, dĩ thứ hóa một, thanh tịnh vô di. Tùy kỳ thời tiết, phong xuy tán hoa, như thị lục phản. Hựu chúng bảo liên hoa, châu mãn thế giới, nhất nhất bảo hoa, bách thiên ức diệp. Kỳ hoa quang minh, vô lượng chủng sắc. Thanh sắc thanh quang, bạch sắc bạch quang, huyền hoàng, châu tử, quang sắc hách nhiên. Vĩ diệp hoán lạn, minh diệu nhật nguyệt. Nhất nhất hoa trung, xuất tam thập lục bách thiên ức quang, nhất nhất quang trung, xuất tam thập lục bách thiên ức Phật, thân sắc tử kim, tướng hảo thù đặc. Nhất nhất chư Phật, hựu phóng bách thiên quang minh, phổ vị thập phương thuyết vi diệu pháp. Như thị chư Phật, các các an lập vô lượng chúng sanh ư Phật chánh đạo.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Các hàng trời người trong cõi Vô Lượng Thọ, quần áo, thức ăn, hoa hương, chuỗi anh lạc, lọng lụa, tràng phan, âm nhạc vi diệu, nhà cửa, cung điện, lầu gác để ở, cao, thấp, lớn, nhỏ đều tương xứng hình sắc của họ. Hoặc do một thứ báu, hai thứ báu, cho đến vô lượng các thứ báu tùy theo lòng muốn, vừa nghĩ liền có. Lại dùng các thứ y đẹp đẽ bằng các thứ báu trải khắp mặt đất, hết thảy trời người đạp lên trên ấy để đi. Vô lượng lưới báu che phủ cõi Phật, đều dùng sợi bằng vàng xâu chân châu, trăm ngàn thứ báu, hiếm đẹp, quý lạ để trang nghiêm tô điểm. Trọn khắp bốn phía chung quanh, treo rủ linh báu, quang minh và màu sắc tỏa sáng chói ngời, trang nghiêm, đẹp đẽ tột bậc. Tự nhiên gió đức thong thả dấy động khe khẽ. Gió ấy điều hòa, chẳng lạnh, chẳng nóng, ấm áp, mát mẻ, mềm mại, chẳng chậm, chẳng nhanh, thổi qua các lưới mành và các cây báu, diễn phát vô lượng âm nhạc vi diệu, lan tỏa muôn thứ đức hương dịu dàng, thanh nhã. Có ai ngửi thấy, tập khí phiền não trần lao tự nhiên chẳng dấy lên. Gió chạm vào thân, đều được vui sướng, ví như tỳ-kheo đắc Diệt Tận tam-muội. Gió lại thổi rải rắc các thứ hoa trọn khắp cõi Phật, lần lượt theo từng màu, chẳng bị tạp loạn, mềm mại, tươi tắn, ngát hương ngào ngạt. Chân đạp trên đó, lún xuống bốn tấc. Chân vừa giở lên, hoa hồi phục như cũ. Hoa dùng đã xong, đất liền nứt ra, hoa theo thứ tự mà biến mất, thanh tịnh, chẳng sót thừa. Thuận theo thời tiết, gió thổi rải hoa sáu lượt như thế. Lại có các hoa sen báu trọn khắp thế giới. Mỗi một hoa báu có trăm ngàn ức cánh. Quang minh của hoa có vô lượng thứ màu, màu xanh ánh sáng xanh, màu trắng ánh sáng trắng, vàng sậm, đỏ tía, màu sắc quang minh rạng rỡ, chói ngời tỏa rạng, sáng ngời như mặt trời, mặt trăng. Trong mỗi hoa, tỏa ra ba mươi sáu trăm ngàn ức quang minh. Trong mỗi quang minh, xuất hiện ba mươi sáu trăm ngàn ức Phật, thân màu vàng tía, tướng hảo thù thắng đặc biệt. Mỗi một vị Phật, lại phóng trăm ngàn quang minh, khắp vì mười phương thuyết vi diệu pháp. Chư Phật như vậy, mỗi vị an lập vô lượng chúng sanh nơi chánh đạo của Phật.

Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh Hạ Quyển
佛說無量壽經下卷
Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh Quyển Hạ

佛告阿難:其有眾生,生彼國者,皆悉住於正定之聚。所以者何?彼佛國中,無諸邪聚,及不定聚。
Phật cáo A Nan: “Kỳ hữu chúng sanh, sanh bỉ quốc giả, giai tất trụ ư Chánh Định chi tụ. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc trung, vô chư Tà Tụ, cập Bất Định Tụ”.
Đức Phật bảo ngài A Nan: “Nếu có chúng sanh sanh vào cõi ấy, thảy đều trụ trong Chánh Định Tụ. Vì cớ sao vậy? Trong cõi Phật ấy, chẳng có các Tà Tụ và Bất Định Tụ”.

十方恆沙諸佛如來,皆共讚歎無量壽佛威神功德不可思議!諸有眾生,聞其名號,信心歡喜,乃至一念至心迴向,願生彼國,即得往生,住不退轉。唯除五逆,誹謗正法。
Thập phương hằng sa chư Phật Như Lai, giai cộng tán thán Vô Lượng Thọ Phật oai thần công đức bất khả tư nghị. Chư hữu chúng sanh, văn kỳ danh hiệu, tín tâm hoan hỷ, nãi chí nhất niệm chí tâm hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc, tức đắc vãng sanh, trụ Bất Thoái Chuyển. Duy trừ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp.
Mười phương chư Phật Như Lai nhiều như số cát trong sông Hằng đều cùng tán thán oai thần và công đức chẳng thể nghĩ bàn của Vô Lượng Thọ Phật. Có các chúng sanh nghe danh hiệu của Ngài, tín tâm, hoan hỷ, dẫu chỉ một niệm chí tâm hồi hướng, nguyện sanh về cõi ấy, liền được vãng sanh, trụ Bất Thoái Chuyển, chỉ trừ kẻ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp.

佛告阿難:十方世界諸天人民,其有至心願生彼國,凡有三輩。
Phật cáo A Nan: - Thập phương thế giới chư thiên nhân dân, kỳ hữu chí tâm nguyện sanh bỉ quốc, phàm hữu tam bối.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Chư thiên nhân dân trong mười phương thế giới, có những người chí tâm nguyện sanh về cõi ấy, nói chung có ba bậc.

其上輩者,捨家棄欲而作沙門,發菩提心,一向 專念無量壽佛,修諸功德,願生彼國。此等眾生,臨壽終時,無量壽佛,與諸大眾,現其人前,即隨彼佛往生其國,便於七寶華中,自然化生,住不退轉。智慧勇猛,神通自在。是故,阿難!其有眾生,欲於今世見無量壽佛,應發無上菩提之心,修行功德,願生彼國。
Kỳ thượng bối giả, xả gia khí dục nhi tác sa-môn, phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm Vô Lượng Thọ Phật, tu chư công đức, nguyện sanh bỉ quốc. Thử đẳng chúng sanh, lâm thọ chung thời, Vô Lượng Thọ Phật, dữ chư đại chúng, hiện kỳ nhân tiền, tức tùy bỉ Phật vãng sanh kỳ quốc, tiện ư thất bảo hoa trung, tự nhiên hóa sanh, trụ Bất Thoái Chuyển. Trí huệ dũng mãnh, thần thông tự tại. Thị cố A Nan! Kỳ hữu chúng sanh, dục ư kim thế kiến Vô Lượng Thọ Phật, ưng phát Vô Thượng Bồ Đề chi tâm, tu hành công đức, nguyện sanh bỉ quốc.
Bậc thượng là người bỏ nhà, lìa dục để làm sa-môn, phát Bồ Đề tâm, một mực chuyên niệm Vô Lượng Thọ Phật, tu các công đức, nguyện sanh về cõi ấy. Các chúng sanh ấy khi sắp lâm chung, Vô Lượng Thọ Phật và các đại chúng, hiện ra trước người ấy, [người ấy] liền theo đức Phật đó sanh về cõi kia, liền tự nhiên hóa sanh trong hoa bảy báu, trụ Bất Thoái Chuyển, trí huệ dũng mãnh, thần thông tự tại. Do vậy, A Nan! Nếu có chúng sanh muốn ngay trong đời này thấy Vô Lượng Thọ Phật, hãy nên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, tu hành công đức, nguyện sanh về cõi đó.

佛告阿難:其中輩者,十方世界諸天人民,其有至心願生彼國,雖不能行作沙門,大修功德。當發無上菩提之心,一向專念無量壽佛,多少修善,奉持齋戒,起立塔像,飯食沙門,懸繒然燈,散華燒香,以此迴向,願生彼國。其人臨終,無量壽佛,化現其身,光明相好,具如真佛,與諸大眾,現其人前。即隨化佛往生其國,住不退轉。功德智慧,次如上輩者也。
Phật cáo A Nan: - Kỳ trung bối giả, thập phương thế giới chư thiên nhân dân, kỳ hữu chí tâm nguyện sanh bỉ quốc, tuy bất năng hành tác sa-môn, đại tu công đức, đương phát Vô Thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm Vô Lượng Thọ Phật, đa thiểu tu thiện, phụng trì trai giới, khởi lập tháp tượng, phạn thực sa-môn, huyền tăng, nhiên đăng, tán hoa, thiêu hương, dĩ thử hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc. Kỳ nhân lâm chung, Vô Lượng Thọ Phật, hóa hiện kỳ thân, quang minh, tướng hảo, cụ như chân Phật, dữ chư đại chúng, hiện kỳ nhân tiền. Tức tùy hóa Phật, vãng sanh kỳ quốc, trụ Bất Thoái Chuyển. Công đức trí huệ, thứ như thượng bối giả dã.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Bậc trung là chư thiên nhân dân trong mười phương thế giới, nếu có ai chí tâm nguyện sanh về cõi ấy, tuy chẳng thể làm sa-môn, tu công đức to lớn, hãy nên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, một mực chuyên niệm Vô Lượng Thọ Phật, tu thiện nhiều hay ít, vâng giữ trai giới, tạo lập tháp tượng, đãi cơm sa-môn, treo phan, thắp đèn, rải hoa, đốt hương. Dùng những điều này để hồi hướng, nguyện sanh về cõi ấy. Người ấy lâm chung, Vô Lượng Thọ Phật sẽ hóa hiện thân Ngài, quang minh, tướng hảo, đầy đủ như vị Phật thật, cùng với các đại chúng, hiện ra trước người ấy, [người ấy] liền theo hóa Phật, vãng sanh cõi ấy, trụ Bất Thoái Chuyển. Công đức và trí huệ kém hơn bậc thượng.

佛告阿難:其下輩者,十方世界諸天人民,其有至心欲生彼國,假使不能作諸功德,當發無上菩提之心,一向專意,乃至十念,念無量壽佛,願生其國。若聞深法,歡喜信樂,不生疑惑,乃至一念,念於彼佛,以至誠心,願生其國。此人臨終,夢見彼佛,亦得往生,功德智慧,次如中輩者也。
Phật cáo A Nan: - Kỳ hạ bối giả, thập phương thế giới chư thiên nhân dân, kỳ hữu chí tâm dục sanh bỉ quốc, giả sử bất năng tác chư công đức, đương phát Vô Thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên ý, nãi chí thập niệm, niệm Vô Lượng Thọ Phật, nguyện sanh kỳ quốc. Nhược văn thâm pháp, hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc, nãi chí nhất niệm, niệm ư bỉ Phật, dĩ chí thành tâm, nguyện sanh kỳ quốc. Thử nhân lâm chung, mộng kiến bỉ Phật, diệc đắc vãng sanh, công đức, trí huệ, thứ như trung bối giả dã.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Bậc hạ là chư thiên, nhân dân trong mười phương thế giới, nếu có ai chí tâm muốn sanh về cõi ấy, giả sử chẳng thể làm các công đức, hãy nên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, một mực chuyên tâm, cho đến mười niệm, niệm Vô Lượng Thọ Phật, nguyện sanh về cõi của Ngài. Nếu nghe pháp sâu, hoan hỷ, tin ưa, chẳng sanh nghi hoặc, dẫu chỉ một niệm, niệm đức Phật ấy, dùng lòng chí thành nguyện sanh về cõi ấy. Người ấy lâm chung, mộng thấy đức Phật ấy, cũng được vãng sanh. Công đức, trí huệ kém bậc trung.

佛告阿難:無量壽佛,威神無極。十方世界無量無邊不可思議諸佛如來,莫不稱歎。於彼東方恆河沙佛國,無量無數諸菩薩眾,皆悉往詣無量壽佛所,恭敬供養,及諸菩薩聲聞之眾,聽受經法,宣布道化。南西北方,四維上下,亦復如是。
Phật cáo A Nan: - Vô Lượng Thọ Phật, oai thần vô cực. Thập phương thế giới vô lượng vô biên bất khả tư nghị chư Phật Như Lai, mạc bất xưng thán. Ư bỉ Đông phương hằng hà sa Phật quốc, vô lượng vô số chư Bồ Tát chúng, giai tất vãng nghệ Vô Lượng Thọ Phật sở, cung kính cúng dường, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn chi chúng, thính thọ kinh pháp, tuyên bố đạo hóa. Nam, Tây, Bắc phương, tứ duy, thượng, hạ, diệc phục như thị.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Vô Lượng Thọ Phật oai thần vô cực, mười phương thế giới vô lượng vô biên chẳng thể nghĩ bàn chư Phật Như Lai không vị nào chẳng xưng tụng, tán thán. Trong các cõi Phật nhiều như số cát sông Hằng ở phương Đông cõi ấy, vô lượng vô số các vị Bồ Tát thảy đều đi đến chỗ Vô Lượng Thọ Phật cung kính cúng dường [A Di Đà Phật] và các vị Bồ Tát, Thanh Văn, nghe nhận kinh pháp, tuyên bố đạo hóa, Phương Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên, dưới, cũng đều giống như vậy.

爾時世尊,而說頌曰。
Nhĩ thời, Thế Tôn nhi thuyết tụng viết:
Khi ấy, đức Thế Tôn bèn nói kệ tụng rằng.

東方諸佛國,其數如恆沙,彼土菩薩眾,往覲無 量覺。南西北四維,上下亦復然,彼土菩薩眾,往覲無量覺。
Đông phương chư Phật quốc, kỳ số như hằng sa, bỉ độ Bồ Tát chúng, vãng cận Vô Lượng Giác. Nam, Tây, Bắc, tứ duy, thượng, hạ diệc phục nhiên, bỉ độ Bồ Tát chúng, vãng cận Vô Lượng Giác.
Các cõi Phật phương Đông, số như cát sông Hằng, Bồ Tát chúng cõi ấy, thân cận Vô Lượng Giác. Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên dưới cũng như thế, Bồ Tát chúng cõi ấy, thân cận Vô Lượng Giác.

一切諸菩薩,各賷天妙華,寶香無價衣,供養無量覺。咸然奏天樂,暢發和雅音,歌歎最勝尊,供養無量覺。究達神通慧,遊入深法門,具足功德藏,妙智無等倫,慧日朗世間,消除生死雲,恭敬遶三帀,稽首無上尊。
Nhất thiết chư Bồ Tát, các tê thiên diệu hoa, bảo hương vô giá y, cúng dường Vô Lượng Giác. Hàm nhiên tấu thiên nhạc, sướng phát hòa nhã âm, ca thán tối thắng tôn, cúng dường Vô Lượng Giác. Cứu đạt thần thông huệ, du nhập thâm pháp môn, cụ túc công đức tạng, diệu trí vô đẳng luân. Huệ nhật lãng thế gian, tiêu trừ sanh tử vân, cung kính nhiễu tam táp, khể thủ Vô Thượng Tôn.
Hết thảy các Bồ Tát, đều cầm hoa trời đẹp, hương báu, y vô giá, cúng dường Vô Lượng Giác. Thảy đều tấu nhạc trời, tiếng hòa nhã du dương, ca ngợi đấng tối thắng, cúng dường Vô Lượng Giác. Thần thông, huệ rốt ráo, chứng nhập pháp môn sâu, đầy đủ tạng công đức, diệu trí khôn sánh tầy. Huệ nhật rạng thế gian, tiêu trừ mây sanh tử, cung kính nhiễu ba vòng, đảnh lễ đấng Vô Thượng.

見彼嚴淨土,微妙難思議,因發無量心,願我國亦然。
Kiến bỉ nghiêm tịnh độ, vi diệu nan tư nghị, nhân phát vô lượng tâm, nguyện ngã quốc diệc nhiên.
Thấy cõi nghiêm tịnh ấy, vi diệu, khó nghĩ bàn; bèn phát tâm vô lượng, nguyện nước mình cũng thế.

應時無量尊,動容發欣笑,口出無數光,徧照十方國。迴光圍遶身,三帀從頂入,一切天人眾,踊躍皆歡喜。大士觀世音,整服稽首問,白佛何緣笑,唯然願說意。梵聲猶雷震,八音暢妙響,當授菩薩記,今說仁諦聽。十方來正士,吾悉知彼願,志求嚴淨土,受決當作佛。覺了一切法,猶如夢幻響,滿足諸妙願,必成如是剎。知法如電影,究竟菩薩道,具諸功德本,受決當作佛。通達諸法性,一切空無我,專求淨佛土,必成如是剎。
Ứng thời Vô Lượng Tôn, động dung phát hân tiếu, khẩu xuất vô số quang, biến chiếu thập phương quốc. Hồi quang vi nhiễu thân, tam táp tùng đảnh nhập, nhất thiết thiên nhân chúng, dũng dược giai hoan hỷ. Đại sĩ Quán Thế Âm, chỉnh phục khể thủ vấn, bạch Phật hà duyên tiếu, dụy nhiên nguyện thuyết ý. Phạm thanh do lôi chấn, bát âm sướng diệu hưởng, đương thọ Bồ Tát ký. Kim thuyết nhân đế thính. Thập phương lai Chánh Sĩ, ngô tất tri bỉ nguyện, chí cầu nghiêm tịnh độ, thọ quyết đương tác Phật, giác liễu nhất thiết pháp, do như mộng, huyễn, hưởng, mãn túc chư diệu nguyện, tất thành như thị sát. Tri pháp như điện ảnh, cứu cánh Bồ Tát đạo, cụ chư công đức bổn, thọ quyết đương tác Phật, thông đạt chư pháp tánh, nhất thiết không vô ngã, chuyên cầu tịnh Phật độ, tất thành như thị sát.
Ngay lúc đó, đức Vô Lượng Tôn, lộ vẻ mặt vui cười, miệng phóng vô số quang, chiếu khắp mười phương cõi. Quang trở về nhiễu thân, ba vòng từ đảnh nhập. Hết thảy chúng trời người, hớn hở, đều hoan hỷ. Đại sĩ Quán Thế Âm, chỉnh áo, đảnh lễ hỏi, bạch Phật duyên gì cười, kính mong Ngài nói cho. Tiếng Phạm như sấm rền, tám âm vang tiếng mầu, sẽ thọ ký Bồ Tát, ta nay nói, lắng nghe! Mười phương Chánh Sĩ đến, ta đều biết nguyện họ, chí cầu cõi nghiêm tịnh, thọ ký quyết thành Phật, thông hiểu hết thảy pháp, ví như mộng, huyễn, vang, tròn đủ các diệu nguyện, ắt thành cõi như thế. Biết pháp như tia chớp, như hình bóng, rốt ráo đạo Bồ Tát, đủ các cội công đức, thọ ký quyết thành Phật. Thông đạt tánh các pháp, hết thảy Không, Vô Ngã, chuyên cầu tịnh cõi Phật, ắt thành cõi như thế.

諸佛告菩薩,令覲安養佛,聞法樂受行,疾得清淨處。至彼嚴淨國,便速得神通,必於無量尊,受記成等覺。其佛本願力,聞名欲往生,皆悉到彼國,自致不退轉。菩薩興至願,願己國無異,普念度一切,名顯滿十方。奉事億如來,飛化徧諸剎,恭敬歡喜去,還到安養國。
Chư Phật cáo Bồ Tát, linh cận An Dưỡng Phật, văn pháp nhạo thọ hành, tật đắc thanh tịnh xứ. Chí bỉ nghiêm tịnh quốc, tiện tốc đắc thần thông, tất ư Vô Lượng Tôn, thọ ký thành Đẳng Giác. Kỳ Phật bổn nguyện lực, văn danh dục vãng sanh, giai tất đáo bỉ quốc, tự trí Bất Thoái Chuyển. Bồ Tát hưng chí nguyện, nguyện kỷ quốc vô dị, phổ niệm độ nhất thiết, danh hiển mãn thập phương. Phụng sự ức Như Lai, phi hóa biến chư sát, cung kính hoan hỷ khứ, hoàn đáo An Dưỡng quốc.
Chư Phật bảo Bồ Tát, thân cận An Dưỡng Phật, nghe pháp, thích thọ hành, mau được chốn thanh tịnh. Đến cõi nghiêm tịnh ấy, sẽ mau đắc thần thông. Ắt được Vô Lượng Tôn, thọ ký thành Đẳng Giác. Do nguyện lực Phật ấy, nghe danh, muốn vãng sanh, thảy đều đến cõi đó, tự đạt Bất Thoái Chuyển. Bồ Tát dấy chí nguyện, nguyện nước mình chẳng khác, niệm độ khắp hết thảy, danh rạng trọn mười phương. Phụng sự ức Như Lai, bay, biến khắp các cõi, cung kính, hoan hỷ đi, trở về nước An Dưỡng.

若人無善心,不得聞此經,清淨有戒者,乃獲聞正法。曾更見世尊,則能信此事,謙敬聞奉行,踊躍大歡喜。憍慢弊懈怠,難以信此法,宿世見諸佛,樂聽如是教。
Nhược nhân vô thiện tâm, bất đắc văn thử kinh. Thanh tịnh hữu giới giả, nãi hoạch văn chánh pháp. Tằng cánh kiến Thế Tôn, tắc năng tín thử sự. Khiêm kính, văn phụng hành, dũng dược, đại hoan hỷ. Kiêu, mạn, tệ, giải đãi, nan dĩ tín thử pháp, túc thế kiến chư Phật, nhạo thính như thị giáo.
Nếu người chẳng thiện tâm, chẳng được nghe kinh này. Kẻ thanh tịnh trì giới, bèn được nghe chánh pháp. Đã từng thấy Thế Tôn, sẽ tin tưởng chuyện này. Khiêm kính, nghe, phụng hành, hớn hở, đại hoan hỷ. Kiêu, mạn, tệ, biếng nhác, khó tin nổi pháp này. Đời trước thấy chư Phật, thích nghe dạy như thế.

聲聞或菩薩,莫能究聖心,譬如從生盲,欲行開導人。如來智慧海,深廣無涯底,二乘非所測,唯佛獨明了。假使一切人,具足皆得道,淨慧知本空,億劫思佛智。窮力極講說,盡壽猶不知,佛慧無邊際,如是致清淨。
Thanh Văn hoặc Bồ Tát, mạc năng cứu thánh tâm, thí như tùng sanh manh, dục hành khai đạo nhân. Như Lai trí huệ hải, thâm quảng vô nhai để, Nhị Thừa phi sở trắc, duy Phật độc minh liễu. Giả sử nhất thiết nhân, cụ túc giai đắc đạo, tịnh huệ tri bổn không, ức kiếp tư Phật trí. Cùng lực cực giảng thuyết, tận thọ do bất tri, Phật huệ vô biên tế, như thị trí thanh tịnh.
Thanh Văn hoặc Bồ Tát, chẳng thấu hiểu thánh tâm, ví như mù bẩm sinh, muốn dẫn đường người khác. Biển trí huệ Như Lai, sâu rộng không bờ đáy, Nhị Thừa chẳng thể lường, chỉ riêng Phật hiểu rõ. Giả sử hết thảy người, thảy đều cùng đắc đạo, tịnh huệ biết vốn không, ức kiếp suy Phật trí, cạn sức để giảng nói, đến chết vẫn chẳng hay, Phật huệ không ngằn mé, đạt thanh tịnh như thế.

壽命甚難得,佛世亦難值,人有信慧難,若聞精進求。聞法能不忘,見敬得大慶,則我善親友,是故當發意。設滿世界火,必過要聞法,會當成佛道,廣度生死流。
Thọ mạng thậm nan đắc, Phật thế diệc nan trị, nhân hữu tín huệ nan, nhược văn tinh tấn cầu. Văn pháp năng bất vong, kiến kính đắc đại khánh, tắc ngã thiện thân hữu, thị cố đương phát ý. Thiết mãn thế giới hỏa, tất quá yếu văn pháp, hội đương thành Phật đạo, quảng độ sanh tử lưu.
Thọ mạng rất khó được, Phật tại thế khó gặp, khó có kẻ trí huệ, nếu nghe, tinh tấn cầu, nghe pháp chẳng quên mất, thấy, kính, đạt vui lớn, thiện thân hữu của ta. Vì thế, nên phát tâm, dẫu thế giới toàn lửa, ắt vượt qua nghe pháp, sẽ có thể thành Phật, rộng độ dòng sanh tử.

佛告阿難:彼國菩薩,皆當究竟一生補處,除其本願為眾生故,以弘誓功德,而自莊嚴,普欲度脫一切眾生。
Phật cáo A Nan: - Bỉ quốc Bồ Tát, giai đương cứu cánh Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ kỳ bổn nguyện vị chúng sanh cố, dĩ hoằng thệ công đức nhi tự trang nghiêm, phổ dục độ thoát nhất thiết chúng sanh.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Bồ Tát trong cõi ấy sẽ đều là rốt ráo Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ khi do bổn nguyện vì chúng sanh của chính mình mà dùng công đức của thệ nguyện rộng lớn để tự trang nghiêm, muốn độ thoát trọn khắp hết thảy chúng sanh.

阿難!彼佛國中諸聲聞眾,身光一尋。菩薩光明照百由旬。有二菩薩,最尊第一,威神光明,普照三千大千世界。阿難白佛:彼二菩薩,其號云何?佛言:一名觀世音,二名大勢至。此二菩薩,於此國土,修菩薩行,命終轉化,生彼佛國。
A Nan! Bỉ Phật quốc trung chư Thanh Văn chúng, thân quang nhất tầm, Bồ Tát quang minh chiếu bách do-tuần. Hữu nhị Bồ Tát, tối tôn đệ nhất, oai thần quang minh, phổ chiếu tam thiên đại thiên thế giới. A Nan bạch Phật: - Bỉ nhị Bồ Tát, kỳ hiệu vân hà? Phật ngôn: - Nhất danh Quán Thế Âm, nhị danh Đại Thế Chí. Thử nhị Bồ Tát ư thử quốc độ, tu Bồ Tát hạnh, mạng chung chuyển hóa, sanh bỉ Phật quốc.
Này A Nan! Các vị Thanh Văn trong cõi Phật ấy quang minh nơi thân chiếu xa một tầm, quang minh của Bồ Tát chiếu một trăm do-tuần. Có hai vị Bồ Tát, tôn quý bậc nhất, oai thần, quang minh chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới. Ngài A Nan bạch Phật: - Hai vị Bồ Tát ấy danh hiệu như thế nào? Đức Phật nói: - Vị thứ nhất tên là Quán Thế Âm, vị thứ hai tên là Đại Thế Chí. Hai vị Bồ Tát ấy ở trong quốc độ này tu Bồ Tát hạnh, mạng chung chuyển hóa, sanh sang nước Phật ấy.

阿難!其有眾生,生彼國者,皆悉具足三十二相。
A Nan! Kỳ hữu chúng sanh, sanh bỉ quốc giả, giai tất cụ túc tam thập nhị tướng.
Này A Nan! Nếu có chúng sanh sanh vào cõi ấy, thảy đều trọn đủ ba mươi hai tướng.

智慧成滿,深入諸法,究暢要妙,神通無礙,諸根明利。其鈍根者,成就二忍。其利根者,得不可計無生法忍。
Trí huệ thành mãn, thâm nhập chư pháp, cứu sướng yếu diệu, thần thông vô ngại, chư căn minh lợi. Kỳ độn căn giả, thành tựu nhị Nhẫn. Kỳ lợi căn giả, đắc bất khả kế Vô Sanh Pháp Nhẫn.
Trí huệ thành tựu viên mãn, thâm nhập các pháp, thông đạt thấu suốt các pháp trọng yếu, nhiệm mầu, thần thông vô ngại, các căn sáng suốt, nhạy bén. Kẻ độn căn thành tựu hai món Nhẫn, bậc lợi căn đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn không thể tính kể.

又彼菩薩,乃至成佛,不受惡趣。神通自在,常識宿命。除生他方五濁惡世,示現同彼,如我國也。
Hựu bỉ Bồ Tát, nãi chí thành Phật, bất thọ ác thú. Thần thông tự tại, thường thức túc mạng. Trừ sanh tha phương ngũ trược ác thế, thị hiện đồng bỉ, như ngã quốc dã.
Lại nữa, các vị Bồ Tát ấy cho đến khi thành Phật, chẳng sanh trong đường ác. Thần thông tự tại, thường biết túc mạng. Trừ khi sanh trong đời ác ngũ trược ở phương khác, thị hiện giống như họ, giống như [sanh vào] nước ta vậy.

佛語阿難:彼國菩薩,承佛威神,一食之頃,往詣十方無量世界,恭敬供養諸佛世尊。隨心所念,華香、伎樂、衣蓋、幢旛,無數無量供養之具,自然化生,應念即至。珍妙殊特,非世所有。輒以奉散諸佛,及諸菩薩聲聞之眾。在虛空中化成華蓋,光色昱爍,香氣普熏。其華周圓四百里者,如是轉倍,乃覆三千大千世界,隨其前後,以次化沒。其諸菩薩,僉然欣悅。於虛空中,共奏天樂,以微妙音,歌歎佛德,聽受經法,歡喜無量。供養佛已 ,未食之前,忽然輕舉,還其本國。
Phật ngữ A Nan: - Bỉ quốc Bồ Tát, thừa Phật oai thần, nhất thực chi khoảnh, vãng nghệ thập phương vô lượng thế giới, cung kính cúng dường chư Phật Thế Tôn, tùy tâm sở niệm, hoa hương, kỹ nhạc, y cái, tràng phan, vô số vô lượng cúng dường chi cụ, tự nhiên hóa sanh, ứng niệm tức chí. Trân diệu thù đặc, phi thế sở hữu, triếp dĩ phụng tán chư Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn chi chúng. Tại hư không trung, hóa thành hoa cái, quang sắc dục thước, hương khí phổ huân. Kỳ hoa châu viên tứ bách lý giả. Như thị chuyển bội, nãi phú tam thiên đại thiên thế giới, tùy kỳ tiền hậu, dĩ thứ hóa một. Kỳ chư Bồ Tát, thiêm nhiên hân duyệt. Ư hư không trung, cộng tấu thiên nhạc, dĩ vi diệu âm, ca thán Phật đức, thính thọ kinh pháp, hoan hỷ vô lượng. Cúng dường Phật dĩ, vị thực chi tiền, hốt nhiên khinh cử, hoàn kỳ bổn quốc.
Đức Phật bảo A Nan: - Bồ Tát trong cõi ấy nương theo oai thần của Phật, trong khoảng bữa ăn, qua đến mười phương vô lượng thế giới, cung kính cúng dường chư Phật Thế Tôn. Tùy theo tâm niệm, hoa, hương, kỹ nhạc, y, lọng, tràng phan, vô số, vô lượng vật cúng dường tự nhiên hóa sanh, vừa nghĩ liền có. Trân quý, đẹp đẽ, đặc biệt thù thắng, trong cõi đời chẳng hề có. Họ liền dùng [những thứ ấy] để dâng rải lên chư Phật và các vị Bồ Tát, Thanh Văn. Ở trong hư không, [những vật phẩm cúng dường ấy] hóa thành lọng hoa, quang minh và màu sắc rạng ngời, mùi thơm xông khắp. Hoa ấy tròn trặn bốn trăm dặm. Như thế lần lượt tăng dần, cho đến che phủ khắp tam thiên đại thiên thế giới, tùy theo thứ tự trước sau mà biến mất. Các vị Bồ Tát hòa hợp, vui sướng, ở trong hư không, cùng tấu nhạc trời, dùng âm thanh vi diệu ca ngợi, tán thán Phật đức, nghe nhận kinh pháp, hoan hỷ vô lượng. Cúng dường Phật xong, trước khi chưa ăn, bỗng nhẹ nhàng cất mình lên, trở về nước mình.

佛語阿難:無量壽佛,為諸聲聞菩薩天人頒宣法時,都悉集會七寶講堂,廣宣道教,演暢妙法,莫不歡喜,心解得道。即時四方自然風起,吹七寶樹,出五音聲。無量妙華,隨風四散,自然供養,如是不絕。一切諸天,皆賷天上百千華香,萬種伎樂,供養其佛,及諸菩薩聲聞之眾。普散華香,奏諸音樂。前後來往,更相開避。當斯之時,熙怡快樂,不可勝言。
Phật ngữ A Nan: - Vô Lượng Thọ Phật, vị chư Thanh Văn, Bồ Tát, thiên nhân ban tuyên pháp thời, đô tất tập hội thất bảo giảng đường, quảng tuyên đạo giáo, diễn sướng diệu pháp, mạc bất hoan hỷ, tâm giải đắc đạo. Tức thời tứ phương tự nhiên phong khởi, xuy thất bảo thụ, xuất ngũ âm thanh. Vô lượng diệu hoa, tùy phong tứ tán, tự nhiên cúng dường, như thị bất tuyệt. Nhất thiết chư thiên, giai tê thiên thượng bách thiên hoa hương, vạn chủng kỹ nhạc, cúng dường kỳ Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn chi chúng. Phổ tán hoa hương, tấu chư âm nhạc. Tiền hậu lai vãng, cánh tương khai tỵ, đương tư chi thời, hy di khoái lạc, bất khả thắng ngôn.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Khi Vô Lượng Thọ Phật ban bố, tuyên nói pháp cho các vị Thanh Văn, Bồ Tát, trời người, [mọi người] thảy đều nhóm họp tại giảng đường bảy báu, [đức Phật] rộng tuyên đạo giáo, diễn giảng thông suốt diệu pháp, không ai chẳng hoan hỷ, tâm giải ngộ, đắc đạo. Ngay khi đó, bốn phương tự nhiên gió trỗi lên, thổi qua các cây báu, vang ra năm âm thanh. Vô lượng diệu hoa theo gió rải rắc bốn phía, tự nhiên cúng dường như thế chẳng dứt. Hết thảy chư thiên đều cầm trăm ngàn hoa hương trên cõi trời, muôn thứ kỹ nhạc để cúng dường đức Phật ấy và các vị Bồ Tát, đại chúng Thanh Văn, rải khắp hoa, hương, tấu các âm nhạc. Trước sau qua lại, lần lượt lui ra nhường lối, ngay trong lúc ấy, khoan khoái, vui sướng chẳng thể kể xiết.

佛語阿難:生彼佛國諸菩薩等,所可講說,常宣正法。隨順智慧,無違無失。於其國土所有萬物,無我所心,無染著心。去來進止,情無所係。隨意自在,無所適莫。無彼無我,無競無訟。於諸眾生,得大慈悲饒益之心。柔潤調伏,無忿恨心。離蓋清淨,無厭怠心。等心、勝心、深心、定心,愛法、樂法、喜法之心。滅諸煩惱,離惡趣心。 究竟一切菩薩所行。
Phật ngữ A Nan: - Sanh bỉ Phật quốc chư Bồ Tát đẳng, sở khả giảng thuyết, thường tuyên chánh pháp, tùy thuận trí huệ, vô vi, vô thất. Ư kỳ quốc độ, sở hữu vạn vật, vô ngã sở tâm, vô nhiễm trước tâm, khứ lai tấn chỉ, tình vô sở hệ, tùy ý tự tại, vô sở đích mạc, vô bỉ, vô ngã, vô cạnh, vô tụng. Ư chư chúng sanh, đắc đại từ bi nhiêu ích chi tâm. Nhu nhuận điều phục, vô phẫn hận tâm, ly cái thanh tịnh, vô yếm đãi tâm, đẳng tâm, thắng tâm, thâm tâm, định tâm, ái pháp, nhạo pháp, hỷ pháp chi tâm. Diệt chư phiền não, ly ác thú tâm, cứu cánh nhất thiết Bồ Tát sở hành.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Các hàng Bồ Tát sanh về cõi Phật ấy có thể giảng nói, thường tuyên dương chánh pháp, tùy thuận trí huệ, chẳng trái nghịch, chẳng sai sót. Đối với tất cả muôn vật trong cõi nước ấy, không có tâm ngã sở, tâm chẳng nhiễm đắm. Đến, đi, cư xử, chẳng vướng mắc trong tình thức, tùy ý tự tại, không có gì yêu ghét. Không người, không ta, chẳng tranh giành, chẳng tranh tụng. Đối với các chúng sanh, mang lòng đại từ bi, tạo lợi ích. Nhu nhuận, điều phục, không có tâm phẫn hận, lìa khỏi những thứ kết sử, thanh tịnh, không có tâm chán ngán, lười nhác. Tâm bình đẳng, tâm thù thắng, thâm tâm, định tâm, yêu mến pháp, ưa thích pháp, tâm vui thích pháp, diệt các phiền não, tâm xa lìa các đường ác, rốt ráo hạnh của hết thảy các Bồ Tát.

具足成就無量功德。得深禪定,諸通明慧,遊志七覺,修心佛法。肉眼清徹,靡不分了。天眼通達,無量無限。法眼觀察,究竟諸道。慧眼見真,能度彼岸。佛眼具足,覺了法性。以無礙智,為人演說。
Cụ túc thành tựu vô lượng công đức, đắc thâm Thiền Định, chư thông minh huệ, du chí Thất Giác, tu tâm Phật pháp. Nhục nhãn thanh triệt, mị bất phân liễu. Thiên nhãn thông đạt, vô lượng vô hạn. Pháp nhãn quán sát, cứu cánh chư đạo. Huệ nhãn kiến chân, năng độ bỉ ngạn. Phật nhãn cụ túc, giác liễu pháp tánh. Dĩ vô ngại trí, vị nhân diễn thuyết.
Thành tựu đầy đủ vô lượng công đức, đắc Thiền Định sâu, đạt được các món thần thông, Tam Minh, trí huệ, dạo chơi trong Thất Giác để tu tâm Phật pháp. Nhục nhãn sáng tỏ, không gì chẳng phân biệt rành rẽ. Thiên nhãn thông đạt, vô lượng, vô hạn. Pháp nhãn quán sát rốt ráo các đạo. Huệ nhãn thấy chân thật, có thể vượt sang bờ kia. Phật nhãn trọn đủ, giác liễu pháp tánh. Dùng vô ngại trí để vì người khác diễn nói.

等觀三界,空無所有。志求佛法,具諸辯才。除滅眾生煩惱之患。從如來生,解法如如。善知集滅音聲方便。不欣世語,樂在正論。修諸善本,志崇佛道。知一切法,皆悉寂滅。生身煩惱,二餘俱盡。聞甚深法,心不疑懼。常能修行其大悲者。深遠微妙,靡不覆載。
Đẳng quán tam giới, không vô sở hữu, chí cầu Phật pháp, cụ chư biện tài, trừ diệt chúng sanh phiền não chi hoạn. Tùng Như Lai sanh, giải pháp như như. Thiện tri Tập Diệt âm thanh phương tiện, bất hân thế ngữ, nhạo tại chánh luận. Tu chư thiện bổn, chí sùng Phật đạo. Tri nhất thiết pháp, giai tất tịch diệt. Sanh thân phiền não, nhị dư câu tận. Văn thậm thâm pháp, tâm bất nghi cụ, thường năng tu hành kỳ đại bi giả, thâm viễn vi diệu, mị bất phú tái.
Bình đẳng quán tam giới là Không, chẳng có sở hữu, chí cầu Phật pháp, đầy đủ các món biện tài, trừ diệt ương hoạn phiền não cho chúng sanh. Sanh từ Như Lai, hiểu pháp như như. Khéo biết âm thanh và phương tiện Tập, Diệt. Chẳng vui thích lời lẽ thế gian, ưa thích chánh luận. Tu các cội lành, chí hướng tôn sùng Phật đạo. Biết hết thảy các pháp thảy đều là tịch diệt, sanh thân phiền não, nhị dư đều hết. Nghe pháp rất sâu, tâm chẳng ngờ vực, sợ hãi, thường có thể tu hành lòng đại bi sâu xa, vi diệu, không gì chẳng chở che.

究竟一乘,至於彼岸。決斷疑網,慧由心出。於佛教法,該羅無外。智慧如大海,三昧如山王。慧光明淨,超踰日月。清白之法,具足圓滿。猶如雪山,照諸功德等一淨故。猶如大地,淨穢好惡無異心故。猶如淨水,洗除塵勞諸垢染故。猶如火王,燒滅一切煩惱薪故。猶如大風,行諸世界無障礙故。猶如虛空,於一切有無所著故。猶如蓮華,於諸世間無染汙故。猶如大乘,運載群萌出生死故。猶如重雲,震大法雷覺未覺故。猶如大雨,雨甘露法潤眾生故。如金剛山,眾魔外道不能動故。如梵天王,於諸善法最上首故。如尼拘類樹,普覆一切故。如優曇鉢華,希有難遇故。如金翅鳥,威伏外道故。如眾遊禽,無所藏積故。猶如牛王,無能勝故。猶如象王,善調伏故。如師子王,無所畏故。曠若虛空,大慈等故。
Cứu cánh Nhất Thừa, chí ư bỉ ngạn. Quyết đoạn nghi võng, huệ do tâm xuất. Ư Phật giáo pháp, cai la vô ngoại. Trí huệ như đại hải, tam-muội như sơn vương. Huệ quang minh tịnh, siêu du nhật nguyệt. Thanh bạch chi pháp, cụ túc viên mãn. Do như Tuyết Sơn, chiếu chư công đức đẳng nhất tịnh cố. Do như đại địa, tịnh uế hảo ác vô dị tâm cố. Do như tịnh thủy, tẩy trừ trần lao chư cấu nhiễm cố. Do như hỏa vương, thiêu diệt nhất thiết phiền não tân cố. Do như đại phong, hành chư thế giới vô chướng ngại cố. Do như hư không, ư nhất thiết hữu vô sở trước cố. Do như liên hoa, ư chư thế gian vô nhiễm ô cố. Do như Đại Thừa, vận tải quần manh xuất sanh tử cố. Do như trùng vân, chấn đại pháp lôi, giác vị giác cố. Do như đại vũ, vũ cam lộ pháp nhuận chúng sanh cố. Như kim cang sơn, chúng ma ngoại đạo bất năng động cố. Như Phạm thiên vương, ư chư thiện pháp tối thượng thủ cố. Như Ni Câu Loại thụ, phổ phú nhất thiết cố. Như Ưu-đàm-bát hoa, hy hữu nan ngộ cố. Như kim xí điểu, oai phục ngoại đạo cố. Như chúng du cầm, vô sở tạng tích cố. Do như ngưu vương, vô năng thắng cố. Do như tượng vương, thiện điều phục cố. Như sư tử vương, vô sở úy cố. Khoáng nhược hư không, đại từ đẳng cố.
Rốt ráo Nhất Thừa, đạt đến bờ kia. Đoạn trừ lưới nghi, huệ xuất phát từ tâm. Bao trùm giáo pháp của Phật, không gì ra ngoài. Trí huệ như biển cả, tam-muội như núi chúa. Ánh sáng trí huệ thanh tịnh, vượt trỗi mặt trời, mặt trăng. Trọn đủ viên mãn pháp trắng sạch. Giống như núi Tuyết, vì chiếu các công đức bình đẳng một mực thanh tịnh. Giống như đại địa, vì đối với tịnh, uế, xấu, tốt, chẳng có tâm sai khác. Giống như nước sạch, vì gột trừ các trần lao cấu nhiễm. Giống như hỏa vương, vì đốt sạch hết thảy củi phiền não. Giống như gió to, vì thổi qua các thế giới chẳng chướng ngại. Giống như hư không, vì đối với hết thảy các Hữu chẳng chấp trước. Giống như hoa sen, vì ở trong các thế gian chẳng ô nhiễm. Giống như Đại Thừa, vì chở quần manh thoát khỏi sanh tử. Giống như mây dầy, vì rền sấm pháp to lớn để giác ngộ kẻ chưa giác. Giống như mưa to, vì mưa pháp cam lộ nhuần thấm chúng sanh. Như núi kim cang, vì các ma và ngoại đạo chẳng thể động. Như Phạm thiên vương, vì là thượng thủ bậc nhất trong các thiện pháp. Như cây Ni Câu Loại vì che phủ khắp hết thảy. Như hoa Ưu-đàm-bát vì hiếm có khó gặp. Như chim cánh vàng vì oai lực chế ngự ngoại đạo. Như các loài chim phiêu du, vì không chất chứa. Giống như trâu chúa, vì chẳng thể thắng được. Giống như voi chúa, vì khéo điều phục. Như sư tử vương vì không sợ hãi. Mênh mông dường hư không vì đại từ bình đẳng.

摧滅嫉心,不忌勝故。專樂求法,心無厭足。常欲廣說,志無疲倦。擊法鼓,建法幢,曜慧日,除癡闇。修六和敬,常行法施。志勇精進,心不退弱。為世燈明,最勝福田。常為師導,等無憎愛。唯樂正道,無餘欣戚。拔諸欲刺,以安群生。功慧殊勝,莫不尊敬。滅三垢障,遊諸神通。
Tồi diệt tật tâm, bất kỵ thắng cố. Chuyên nhạo cầu pháp, tâm vô yếm túc, thường dục quảng thuyết, chí vô bì quyện. Kích pháp cổ, kiến pháp tràng, diệu huệ nhật, trừ si ám. Tu Lục Hòa Kính, thường hành pháp thí. Chí dũng tinh tấn, tâm bất thoái nhược. Vi thế đăng minh, tối thắng phước điền. Thường vi sư đạo, đẳng vô tăng ái. Duy nhạo chánh đạo, vô dư hân thích. Bạt chư dục thích, dĩ an quần sanh, công huệ thù thắng, mạc bất tôn kính. Diệt tam cấu chướng, du chư thần thông.
Dẹp tan tâm ganh ghét vì chẳng đố kỵ người hơn mình. Chuyên thích cầu pháp, tâm không chán đủ, thường muốn nói rộng rãi, chí nguyện chẳng mệt mỏi. Đánh trống pháp, dựng pháp tràng, chói ngời mặt trời trí huệ, trừ si ám. Tu Lục Hòa Kính, thường hành pháp thí. Chí nguyện dũng mãnh, tinh tấn, tâm chẳng lui sụt, yếu đuối. Làm đèn soi đời, ruộng phước tối thắng. Thường làm bậc đạo sư, bình đẳng, không yêu ghét. Chỉ thích chánh đạo, không yêu mến, lo lắng điều chi khác. Nhổ các gai dục để an định các chúng sanh. Công đức, trí huệ thù thắng, không ai chẳng tôn kính. Diệt trừ tam cấu chướng, dạo chơi trong các thần thông.

因力、緣力、意力、願力、方便之力。常力、善力、定力、慧力,多聞之力。施戒忍辱精進禪定智慧之力。正念止觀,諸通明力。如法調伏諸眾生力。如是等力,一切具足。
Nhân lực, duyên lực, ý lực, nguyện lực, phương tiện chi lực. Thường lực, thiện lực, định lực, huệ lực, đa văn chi lực. Thí, giới, nhẫn nhục, tinh tấn, Thiền Định, trí huệ chi lực. Chánh niệm Chỉ Quán, chư thông minh lực. Như pháp điều phục chư chúng sanh lực. Như thị đẳng lực, nhất thiết cụ túc.
Nhân lực, duyên lực, ý lực, nguyện lực, phương tiện lực. Thường lực, thiện lực, định lực, huệ lực, đa văn lực. Sức thí, giới, nhẫn nhục, tinh tấn, Thiền Định, trí huệ. Sức chánh niệm Chỉ Quán, sức các món thần thông, tam minh. Sức điều phục chúng sanh đúng pháp. Các sức như thế, hết thảy đều trọn đủ.

身色相好,功德辯才,具足莊嚴,無與等者。恭敬供養無量諸佛,常為諸佛所共稱歎。究竟菩薩諸波羅蜜,修空、無相、無願三昧,不生不滅諸三昧門,遠離聲聞緣覺之地。
Thân sắc tướng hảo, công đức biện tài, cụ túc trang nghiêm, vô dữ đẳng giả. Cung kính cúng dường vô lượng chư Phật, thường vị chư Phật sở cộng xưng thán. Cứu cánh Bồ Tát chư Ba La Mật, tu Không, Vô Tướng, Vô Nguyện tam-muội, bất sanh bất diệt chư tam-muội môn, viễn ly Thanh Văn, Duyên Giác chi địa.
Sắc thân, tướng hảo, công đức biện tài, trang nghiêm trọn đủ, chẳng ai sánh bằng. Cung kính cúng dường vô lượng chư Phật, thường được chư Phật cùng khen ngợi. Rốt ráo các Ba La Mật của hàng Bồ Tát, tu Không, Vô Tướng, Vô Nguyện tam-muội, các môn tam-muội bất sanh bất diệt, xa lìa địa vị Thanh Văn, Duyên Giác.

阿難!彼諸菩薩,成就如是無量功德,我但為汝略言之耳。若廣說者,百千萬劫不能窮盡。
A Nan! Bỉ chư Bồ Tát, thành tựu như thị vô lượng công đức, ngã đản vị nhữ lược ngôn chi nhĩ. Nhược quảng thuyết giả, bách thiên vạn kiếp bất năng cùng tận.
Này A Nan! Các vị Bồ Tát ấy thành tựu vô lượng công đức như thế đó, ta chỉ nói đại lược cho các ông đó thôi. Nếu nói chi tiết, trăm ngàn vạn kiếp chẳng thể nói trọn hết.

佛告彌勒菩薩諸天人等:無量壽國,聲聞菩薩,功德智慧,不可稱說。又其國土,微妙安樂,清淨若此。何不力為善?念道之自然。著於無上下,洞達無邊際,宜各勤精進,努力自求之。必得超絕去,往生安樂國。橫截五惡道,惡道自然閉。昇道無窮極,易往而無人。其國不逆違,自然之所牽。何不棄世事?勤行求道德。可得極長生,壽樂無有極。
Phật cáo Di Lặc Bồ Tát chư thiên nhân đẳng: - Vô Lượng Thọ Quốc, Thanh Văn, Bồ Tát, công đức, trí huệ, bất khả xưng thuyết. Hựu kỳ quốc độ, vi diệu an lạc, thanh tịnh nhược thử, hà bất lực vi thiện? Niệm đạo chi tự nhiên, trước ư vô thượng hạ, đỗng đạt vô biên tế, nghi các cần tinh tấn, nỗ lực tự cầu chi, tất đắc siêu tuyệt khứ, vãng sanh An Lạc quốc, hoành tiệt ngũ ác đạo, ác đạo tự nhiên bế, thăng đạo vô cùng cực, dị vãng nhi vô nhân, kỳ quốc bất nghịch vi, tự nhiên chi sở khiên, hà bất khí thế sự? Cần hành cầu đạo đức, khả đắc cực trường sanh, thọ lạc vô hữu cực.
Đức Phật bảo Di Lặc Bồ Tát và các hàng trời người: - Công đức và trí huệ của hàng Bồ Tát, Thanh Văn trong nước Vô Lượng Thọ chẳng thể nói kể. Thêm nữa, cõi nước ấy vi diệu, an lạc, thanh tịnh dường ấy, sao chẳng nỗ lực làm lành? Nghĩ tới đạo tự nhiên, phủ trùm [khắp các căn cơ, chẳng phân biệt] thượng căn hay hạ căn, liễu đạt thông suốt, chẳng có ngằn mé. Ai nấy hãy nên siêng năng, tinh tấn, nỗ lực tự cầu, ắt sẽ được vượt thoát [tam giới], đoạn tuyệt [sanh tử], sanh về cõi An Lạc, cắt ngang năm đường ác, ác đạo tự nhiên đóng lại, vượt lên Phật đạo chẳng có hạn cực. Dễ đi mà không có ai, cõi nước ấy chẳng trái nghịch, tự nhiên lôi kéo, sao chẳng bỏ việc đời? Siêng năng hành trì cầu đạo đức, sẽ có thể đạt được trường sanh tột bậc, thọ mạng và vui sướng chẳng có cùng cực.

然世人薄俗,共諍不急之事,於此劇惡極苦之中 ,勤身營務,以自給濟。無尊無卑,無貧無富,少長男女,共憂錢財。有無同然,憂思適等。屏營愁苦,累念積慮。為心走使,無有安時。有田憂田,有宅憂宅。牛馬六畜,奴婢錢財,衣食什物,復共憂之。重思累息,憂念愁怖。橫為非常水火、盜賊、怨家、債主,焚漂劫奪,消散磨滅。憂毒忪忪,無有解時。結憤心中,不離憂惱。心堅意固,適無縱捨。或坐摧碎,身亡命終,棄捐之去,莫誰隨者。尊貴豪富,亦有斯患。憂懼萬端,勤苦若此,結眾寒熱,與痛共居。貧窮下劣,困乏常無。無田亦憂欲有田,無宅亦憂欲有宅。無牛馬六畜,奴婢錢財,衣食什物,亦憂欲有之。適有一,復少一,有是少是,思有齊等。適欲具有,便復糜散。如是憂苦,當復求索。不能時得,思想無益。身心俱勞,坐起不安。憂念相隨,勤苦若此,亦結眾寒熱,與痛共居。或時坐之,終身夭命,不肯為善,行道進德。壽終身死,當獨遠去。有所趣向,善惡之道,莫能知者。
Nhiên thế nhân bạc tục, cộng tranh bất cấp chi sự, ư thử kịch ác cực khổ chi trung, cần thân doanh vụ, dĩ tự cấp tế. Vô tôn, vô ty, vô bần, vô phú, thiếu, trưởng, nam, nữ, cộng ưu tiền tài. Hữu vô đồng nhiên, ưu tư thích đẳng. Bính doanh sầu khổ, lũy niệm tích lự, vị tâm tẩu sử, vô hữu an thời. Hữu điền ưu điền, hữu trạch ưu trạch. Ngưu, mã, lục súc, nô tỳ, tiền tài, y thực, thập vật, phục cộng ưu chi. Trùng tư lũy tức, ưu niệm sầu bố, hoạnh vị phi thường thủy hỏa, đạo tặc, oán gia, trái chủ, phần phiêu kiếp đoạt, tiêu tán ma diệt. Ưu độc chung chung, vô hữu giải thời, kết phẫn tâm trung, bất ly ưu não. Tâm kiên ý cố, thích vô túng xả. Hoặc tọa tồi toái, thân vong mạng chung, khí quyên chi khứ, mạc thùy tùy giả, tôn quý hào phú, diệc hữu tư hoạn, ưu cụ vạn đoan, cần khổ nhược thử, kết chúng hàn nhiệt, dữ thống cộng cư, bần cùng hạ liệt, khốn phạp thường vô. Vô điền diệc ưu dục hữu điền, vô trạch diệc ưu dục hữu trạch. Vô ngưu, mã, lục súc, nô tỳ, tiền tài, y thực, thập vật, diệc ưu dục hữu chi. Thích hữu nhất, phục thiểu nhất, hữu thị thiểu thị, tư hữu tề đẳng. Thích dục cụ hữu, tiện phục mi tán. Như thị ưu khổ, đương phục cầu sách, bất năng thời đắc, tư tưởng vô ích, thân tâm câu lao, tọa khởi bất an, ưu niệm tương tùy, cần khổ nhược thử, diệc kết chúng hàn nhiệt, dữ thống cộng cư. Hoặc thời tọa chi, chung thân yểu mạng, bất khẳng vi thiện, hành đạo tấn đức. Thọ chung thân tử, đương độc viễn khứ. Hữu sở thú hướng, thiện ác chi đạo, mạc năng tri giả.
Nhưng người đời quen thói bạc bẽo, cùng bận bịu vì những chuyện chẳng cần kíp. Trong chốn ác khổ cùng cực này, vất vả lo liệu để tự chi dùng. Bất luận sang, hèn, nghèo, giàu, bé, lớn, trai, gái, đều cùng lo lắng tiền tài. Có hay không đều giống hệt, lo nghĩ y hệt như nhau. Lo lắng, băn khoăn, bươn bả sầu khổ, lo toan chồng chất, bị cái tâm sai khiến, chẳng có lúc nào yên! Có ruộng lo ruộng, có nhà lo nhà. Trâu, ngựa, gia súc, tôi tớ, tiền của, áo cơm, đồ đạc, lại lo âu thêm. Lo quẩn nghĩ quanh, ngẫm nghĩ lo âu, sầu muộn, sợ hãi, bỗng dưng bị nước, lửa vô thường, trộm cướp, oán gia trái chủ đốt, trôi, cướp đoạt, tiêu tan mòn mất. Lo buồn dằn vặt, bứt rứt, chẳng có lúc cởi gỡ, kết thành nỗi phẫn hận trong tâm, chẳng lìa ưu não. Tâm ý kiên cố, nếu chẳng buông bỏ được, thì hoặc là do bị vùi dập tan nát mà thân chết, mạng hết, lìa đời ra đi, chẳng có ai theo. Tôn quý, giàu sang, cũng có nỗi ương hoạn ấy. Lo sợ muôn mối, nhọc nhằn, khổ sở dường ấy, trải bao mùa nóng lạnh, thường sống với khổ đau, bần cùng, hèn kém, khốn đốn, thiếu hụt, thường chẳng có gì. Không có ruộng cũng lo lắng, mong sao có ruộng. Không có nhà bèn lo lắng, mong sao có nhà. Không có trâu, ngựa, gia súc, tôi tớ, tiền của, áo cơm, đồ đạc, cũng lo lắng muốn có. Nếu có được một, lại [cảm thấy] thiếu một. Có thứ gì bèn cảm thấy thiếu thứ đó, mong sao có được [của cải, vật chất] bằng kẻ khác. Vừa mới có đủ theo lòng ham muốn, sẽ liền tan nát. Ưu khổ như thế, vẫn lại mong cầu, tìm kiếm, chẳng thể có được [những thứ mong cầu] đúng lúc! Suy nghĩ vô ích, thân lẫn tâm đều mệt, đứng ngồi chẳng yên, thường luôn lo nghĩ, nhọc nhằn dường ấy, cũng trải bao mùa nóng lạnh, thường sống trong đau khổ. Hoặc là có lúc do bởi đó mà táng thân yểu mạng, chẳng chịu làm lành, tu đạo để tăng tấn đức. Tuổi thọ đã hết, thân chết, một mình đi đến chốn xa xôi, sẽ đi vào đường thiện hay nẻo ác, không ai có thể biết được.

世間人民,父子兄弟,夫婦家室,中外親屬,當相敬愛,無相憎嫉。有無相通,無得貪惜,言色常和,莫相違戾。或時心諍,有所恚怒。今世恨意,微相憎嫉,後世轉劇,至成大怨。所以者何?世間之事,更相患害。雖不即時,應急相破。然含毒畜怒,結憤精神,自然剋識,不得相離。皆當對生,更相報復。人在世間,愛欲之中,獨生獨死,獨去獨來,當行至趣苦樂之地,身自當之,無有代者。善惡變化,殃福異處,宿豫嚴待,當獨趣入,遠到他所,莫能見者。善惡自然追行所生,窈窈冥冥,別離久長,道路不同,會見無期。甚難!甚難!今得相值。何不棄眾事,各遇強健時,努力勤修善,精進願度世,可得極長生。如何不求道,安所須待,欲何樂乎?
Thế gian nhân dân, phụ tử, huynh đệ, phu phụ gia thất, trung ngoại thân thuộc, đương tương kính ái, vô tương tăng tật. Hữu vô tương thông, vô đắc tham tích, ngôn sắc thường hòa, mạc tương vi lệ. Hoặc thời tâm tránh, hữu sở khuể nộ. Kim thế hận ý, vi tương tăng tật, hậu thế chuyển kịch, chí thành đại oán. Sở dĩ giả hà? Thế gian chi sự, cánh tương hoạn hại. Tuy bất tức thời, ưng cấp tương phá. Nhiên hàm độc súc nộ, kết phẫn tinh thần, tự nhiên khắc thức, bất đắc tương ly, giai đương đối sanh, cánh tương báo phục. Nhân tại thế gian, ái dục chi trung, độc sanh, độc tử, độc khứ, độc lai, đương hành chí thú khổ lạc chi địa, thân tự đương chi, vô hữu đại giả. Thiện ác biến hóa, ương phước dị xứ, túc dự nghiêm đãi, đương độc thú nhập, viễn đáo tha sở, mạc năng kiến giả. Thiện ác tự nhiên truy hành sở sanh, yểu yểu minh minh, biệt ly cửu trường, đạo lộ bất đồng, hội kiến vô kỳ. Thậm nan! Thậm nan! Kim đắc tương trị, hà bất khí chúng sự, các ngộ cường kiện thời, nỗ lực cần tu thiện, tinh tấn nguyện độ thế, khả đắc cực trường sanh. Như hà bất cầu đạo, an sở tu đãi, dục hà lạc hồ?
Nhân dân trong thế gian, cha, con, anh, em, vợ chồng, gia đình, thân thuộc trong ngoài, hãy nên kính yêu nhau, đừng ganh ghét nhau. Kẻ có [tiền của] hãy chia sẻ cho người không, đừng nên tham tiếc. Lời lẽ, vẻ mặt thường hòa dịu, đừng nên chống trái nhau. Hoặc là có lúc tâm tranh chấp, có những điều giận dữ. Trong đời này, ý căm hận, ganh ghét lẫn nhau còn nhẹ, đời sau sẽ chuyển thành dữ dội, đến nỗi trở thành niềm oán hận to lớn. Vì cớ sao vậy? Chuyện trong thế gian gây nên tai ương, họa hại lẫn nhau, dẫu chẳng ngay lập tức [xảy ra], hãy nên cấp tốc phá trừ. Nhưng chất chứa sự độc ác, tích lũy giận dữ, kết thành nỗi căm phẫn trong tinh thần, tự nhiên in hằn trong tâm thức, chẳng thể lìa bỏ được, sẽ đều sanh ra kết quả đối đầu, báo thù lẫn nhau. Người sống trong thế gian, ở trong ái dục, một mình sanh ra, một một lìa đi, một mình đến, một mình đi, sẽ đi đến nơi khổ hay vui, tự mình gánh chịu, chẳng có ai thay thế. Thiện ác biến hóa, họa phước khác chỗ, do nghiệp duyên đã tạo sẵn trong quá khứ mà sẽ nghiêm ngặt hứng chịu cái quả, sẽ một mình tiến vào [chỗ thọ quả], đến nơi khác xa xôi, không ai có thể thấy. Thiện ác tự nhiên ruổi theo chỗ sẽ sanh về, mù tăm, mịt mờ, biệt ly dài lâu, đường lối khác nhau, chẳng có kỳ hạn gặp gỡ. Rất khó! Rất khó! Nay được gặp gỡ, sao không vứt bỏ mọi chuyện, ai nấy hãy nhằm lúc khỏe mạnh mà nỗ lực siêng năng tu thiện, tinh tấn nguyện độ đời, ngõ hầu đạt được trường sanh cùng cực. Vì sao chẳng cầu đạo, há nên chờ đợi? Dục thì có gì vui sướng đâu nhỉ?

如是世人,不信作善得善,為道得道。不信人死更生,惠施得福。善惡之事,都不信之。謂之不然,終無有是。但坐此故,且自見之,更相瞻視,先後同然。轉相承受,父餘教令,先人祖父,素不為善,不識道德。身愚神闇,心塞意閉。死生之趣,善惡之道,自不能見,無有語者。吉凶禍福,競各作之,無一怪也。生死常道,轉相嗣立。或父哭子,或子哭父。兄弟夫婦,更相哭泣。顛倒上下,無常根本,皆當過去,不可常保。教語開導,信之者少。是以生死流轉,無有休止。如此之人,蒙冥抵突,不信經法,心無遠慮,各欲快意,癡惑愛欲。不達於道德,迷沒於瞋怒,貪狼於財色,坐之不得道。當更惡趣苦,生死無窮已,哀哉甚可傷!或時室家父子,兄弟夫婦,一死一生,更相哀愍。恩愛思慕,憂念結縛,心意痛著,迭相顧戀,窮日卒歲,無有解已。教語道德,心不開明,思想恩好,不離情欲。昏蒙闇塞,愚惑所覆,不能深思熟計,心自端正,專精行道,決斷世事。便旋至竟,年壽終盡,不能得道,無可奈何。總猥憒擾,皆貪愛欲。惑道者眾,悟之者少。世間匆匆,無可聊賴。尊卑上下,貧富貴賤,勤苦匆務,各懷殺毒。惡氣窈冥,為妄興事。違逆天地,不從人心。自然非惡,先隨與之,恣聽所為,待其罪極。其壽未終盡,便頓奪之。下入惡道,累世勤苦,展轉其中,數千億劫,無有出期。痛不可言,甚可哀愍!
Như thị thế nhân, bất tín tác thiện đắc thiện, vi đạo đắc đạo, bất tín nhân tử cánh sanh, huệ thí đắc phước. Thiện ác chi sự, đô bất tín chi. Vị chi bất nhiên, chung vô hữu thị. Đản tọa thử cố, thả tự kiến chi, cánh tương chiêm thị, tiên hậu đồng nhiên. Chuyển tương thừa thọ, phụ dư giáo lệnh, tiên nhân tổ phụ, tố bất vi thiện, bất thức đạo đức. Thân ngu thần ám, tâm tắc ý bế. Tử sanh chi thú, thiện ác chi đạo, tự bất năng kiến, vô hữu ngữ giả. Cát hung họa phước, cạnh các tác chi, vô nhất quái dã. Sanh tử thường đạo, chuyển tương tự lập. Hoặc phụ khốc tử, hoặc tử khốc phụ. Huynh đệ phu phụ, cánh tương khốc khấp, điên đảo thượng hạ, vô thường căn bổn, giai đương quá khứ, bất khả thường bảo. Giáo ngữ khai đạo, tín chi giả thiểu. Thị dĩ sanh tử lưu chuyển, vô hữu hưu chỉ. Như thử chi nhân, mông minh để đột, bất tín kinh pháp, tâm vô viễn lự, các dục khoái ý, si hoặc ái dục. Bất đạt ư đạo đức, mê một ư sân nộ, tham lang ư tài sắc, tọa chi bất đắc đạo. Đương cánh ác thú khổ, sanh tử vô cùng dĩ, ai tai thậm khả thương! Hoặc thời thất gia phụ tử, huynh đệ phu phụ, nhất tử, nhất sanh, cánh tương ai mẫn. Ân ái tư mộ, ưu niệm kết phược, tâm ý thống trước, điệt tương cố luyến, cùng nhật tốt tuế, vô hữu giải dĩ. Giáo ngữ đạo đức, tâm bất khai minh, tư tưởng ân hảo, bất ly tình dục. Hôn mông ám tắc, ngu hoặc sở phú, bất năng thâm tư thục kế, tâm tự đoan chánh, chuyên tinh hành đạo, quyết đoạn thế sự. Tiện toàn chí cánh, niên thọ chung tận, bất khả đắc đạo, vô khả nại hà! Tổng ổi hội nhiễu, giai tham ái dục. Hoặc đạo giả chúng, ngộ chi giả thiểu! Thế gian thông thông, vô khả liêu lại. Tôn ty thượng hạ, bần phú quý tiện, cần khổ thông vụ, các hoài sát độc. Ác khí yểu minh, vi vọng hưng sự, vi nghịch thiên địa, bất tùng nhân tâm. Tự nhiên phi ác, tiên tùy dữ chi, tứ thính sở vi, đãi kỳ tội cực. Kỳ thọ vị chung tận, tiện đốn đoạt chi. Hạ nhập ác đạo, lũy thế cần khổ, triển chuyển kỳ trung, sổ thiên ức kiếp, vô hữu xuất kỳ. Thống bất khả ngôn, thậm khả ai mẫn!
Người đời như thế đó, chẳng tin làm lành sẽ được lành, tu đạo sẽ đắc đạo, chẳng tin con người chết rồi sẽ lại sanh, do bố thí rộng rãi sẽ được phước. Đối với chuyện thiện ác, họ đều chẳng tin, bảo là “chẳng phải vậy, rốt cuộc chẳng có chuyện ấy”. Chỉ vì lẽ ấy, họ lại còn tự thấy, cùng nhau nhìn ngó, trước sau đều là như thế. Lần lượt dạy bảo lẫn nhau, cha đã truyền dạy [kiến chấp ấy cho con], người đời trước, ông, cha, trọn chẳng làm lành, chẳng biết đạo đức. Thân tâm ngu tối, tâm ý bế tắc. Nẻo tử sanh, đường thiện ác chẳng thể tự thấy, không ai bảo ban. Cát, hung, họa, phước, ai nấy đua nhau làm, chẳng lấy gì làm lạ. Đạo sanh tử thường hằng, lần lượt nối dõi cho nhau. Hoặc cha khóc con, hoặc con khóc cha. Anh em, vợ chồng, khóc than lẫn nhau. Trên dưới điên đảo, vô thường là điều căn bản, [tất cả mọi mối quan hệ, mọi pháp trong thế gian] rồi sẽ qua đi, chẳng thể giữ mãi. Dạy, nói, chỉ bày, kẻ tin thì ít. Do vậy, lưu chuyển trong sanh tử, chẳng hề ngưng nghỉ. Hạng người như thế tối tăm, hung hăng, chẳng tin kinh pháp, tâm chẳng lo xa, mỗi chuyện đều muốn khoái ý, si mê, ngu hoặc bởi ái dục, chẳng thông đạt đạo đức, mê muội, chìm đắm trong giận dữ, tham lam tài sắc. Do vậy, kẻ ấy chẳng đắc đạo, sẽ chịu khổ trong nẻo ác, sanh tử chẳng có cùng tận, buồn thay, quá đáng thương! Hoặc là có lúc gia đình, cha con, anh em, chồng vợ, một đằng sống, một đằng chết, thương xót lẫn nhau. Nhớ nghĩ niềm ân ái, buồn thương ràng buộc, tâm ý đau đớn, quyến luyến lẫn nhau, năm tàn tháng lụn, chẳng hề cởi gỡ. Dạy bảo đạo đức, tâm chẳng mở mang, sáng suốt, cứ nghĩ đến ân tình thắm thiết, chẳng lìa tình dục. Tối tăm, bế tắc, bị sự ngu hoặc che lấp, chẳng thể suy sâu nghĩ chín, tự đoan chánh cái tâm, chuyên ròng tu đạo, quyết đoán cắt đứt chuyện đời. Chẳng mấy chốc đã hết đời, tuổi thọ chấm dứt, chẳng thể đắc đạo, biết làm sao đây! Luôn bị quấy nhiễu bởi xấu hèn, hồ đồ, đều là vì tham ái dục. Kẻ lầm lạc nơi đạo thì đông, người ngộ ít ỏi. Thế gian tất bật, chẳng thể nương cậy. Tôn, ty, trên, dưới, nghèo, giàu, sang, nhọc nhằn, bận bịu, ai nấy ôm ấp phiền não giết hại. Ác khí mù mịt, xằng bậy làm càn, trái nghịch trời đất, chẳng thuận lòng người. Tự nhiên là sai quấy, xấu ác, [cho nên chúng sanh trong cõi này vừa sanh ra] đã có [những điều sai, ác] theo sẵn từ trước, mặc sức mà làm, cho đến khi tội lỗi cùng cực, tuổi thọ chưa hết, đã bị nhanh chóng đoạt mất, rơi vào ác đạo, vất vả bao đời, xoay vần trong đó, mấy ngàn ức kiếp, chẳng có thuở thoát ra. Đau chẳng thể nói, hết sức đáng thương xót!

佛告彌勒菩薩,諸天人等:我今語汝,世間之事,人用是故,坐不得道。當熟思計,遠離眾惡。擇其善者,勤而行之。愛欲榮華,不可常保,皆當別離,無可樂者。遇佛在世,當勤精進。其有至願生安樂國者,可得智慧明達,功德殊勝。勿得隨心所欲,虧負經戒,在人後也。儻有疑意,不解經者,可具問佛,當為說之。
Phật cáo Di Lặc Bồ Tát, chư thiên nhân đẳng: - Ngã kim ngữ nhữ, thế gian chi sự, nhân dụng thị cố, tọa bất đắc đạo. Đương thục tư kế, viễn ly chúng ác. Trạch kỳ thiện giả, cần nhi hành chi. Ái dục vinh hoa, bất khả thường bảo, giai đương biệt ly, vô khả lạc giả. Ngộ Phật tại thế, đương cần tinh tấn. Kỳ hữu chí nguyện sanh An Lạc quốc giả, khả đắc trí huệ minh đạt, công đức thù thắng. Vật đắc tùy tâm sở dục, khuy phụ kinh giới, tại nhân hậu dã. Thảng hữu nghi ý, bất giải kinh giả, khả cụ vấn Phật, đương vị thuyết chi.
Đức Phật bảo Di Lặc Bồ Tát và các hàng trời người: - Ta nay bảo các ông, chuyện trong thế gian, con người do những điều ấy, cho nên chẳng đắc đạo. Hãy nên suy nghĩ kỹ càng, xa lìa các điều ác, chọn lựa điều thiện để siêng làm. Ái dục vinh hoa chẳng thể giữ mãi, sẽ đều biệt ly, chẳng có gì đáng vui thích. Gặp Phật tại thế, hãy nên siêng tinh tấn. Ai có chí nguyện sanh về nước An Lạc, có thể đạt được trí huệ sáng suốt, thông đạt, công đức thù thắng. Đừng nên thuận theo lòng ham muốn trong tâm, mà thiếu sót, phụ bạc kinh giới, tụt sau người khác. Nếu có ý ngờ, chẳng hiểu kinh điển, có thể hỏi Phật trọn vẹn, ta sẽ nói cho các ông.

彌勒菩薩長跪白言:佛威神尊重,所說快善。聽佛經語,貫心思之,世人實爾,如佛所言。今佛慈愍,顯示大道,耳目開明,長得度脫,聞佛所說,莫不歡喜。諸天人民蝡動之類,皆蒙慈恩,解脫憂苦。佛語教戒,甚深甚善,智慧明見八方上下去來今事,莫不究暢。今我眾等,所以蒙得度脫,皆佛前世求道之時,謙苦所致。恩德普覆,福祿巍巍,光明徹照,達空無極,開入泥洹。教授典攬,威制消化。感動十方,無窮無極。佛為法王,尊超眾聖,普為一切天人之師,隨心所願,皆令得道。今得值佛,復聞無量壽聲,靡不歡喜,心得開明。
Di Lặc Bồ Tát trường quỵ, bạch ngôn: - Phật oai thần tôn trọng, sở thuyết khoái thiện. Thính Phật kinh ngữ, quán tâm tư chi, thế nhân thật nhĩ, như Phật sở ngôn. Kim Phật từ mẫn, hiển thị đại đạo, nhĩ mục khai minh, trưởng đắc độ thoát, văn Phật sở thuyết, mạc bất hoan hỷ. Chư thiên nhân dân nhuyễn động chi loại, giai mông từ ân, giải thoát ưu khổ. Phật ngữ giáo giới, thậm thâm thậm thiện, trí huệ minh kiến bát phương thượng hạ khứ lai kim sự, mạc bất cứu sướng. Kim ngã chúng đẳng, sở dĩ mông đắc độ thoát, giai Phật tiền thế cầu đạo chi thời, khiêm khổ sở trí. Ân đức phổ phú, phước lộc nguy nguy, quang minh triệt chiếu, đạt không vô cực, khai nhập Nê Hoàn. Giáo thọ điển lãm, oai chế tiêu hóa, cảm động thập phương, vô cùng vô cực. Phật vi pháp vương, tôn siêu chúng thánh, phổ vị nhất thiết thiên nhân chi sư, tùy tâm sở nguyện, giai linh đắc đạo. Kim đắc trị Phật, phục văn Vô Lượng Thọ thanh, mị bất hoan hỷ, tâm đắc khai minh.
Di Lặc Bồ Tát quỳ thẳng, bạch rằng: - Oai đức và thần thông của Phật đáng tôn trọng, những lời Ngài nói thật hay khéo. Nghe lời kinh do đức Phật dạy, dốc lòng suy nghĩ, [chúng con nhận thấy] người trong cõi đời thật sự là như thế, đúng như lời Phật dạy. Nay đức Phật từ bi thương xót, tỏ bày đại đạo, tai mắt được sáng suốt, sẽ được độ thoát. Nghe lời Phật dạy, không ai chẳng hoan hỷ. Chư thiên nhân dân, các loài trùng bọ, đều được hưởng từ ân, giải thoát nỗi ưu khổ. Phật thốt lời răn dạy, rất sâu, rất lành, trí huệ thấy rõ chuyện trong tám phương, trên, dưới, quá khứ, vị lai, hiện tại, không gì chẳng thông đạt rốt ráo. Nay bọn chúng con sở dĩ được Ngài độ thoát, đều là do trong đời trước, khi Phật cầu đạo, đã khiêm tốn, khổ nhọc mà ra. Ân đức che khắp, phước lộc vòi vọi, quang minh chiếu thấu triệt, thấu đạt lẽ Không chẳng có cùng cực, mở ra phương cách chứng nhập Nê Hoàn. Ngài dạy chúng con học tập kinh điển. Ngài dùng oai đức chế định giới luật hòng giáo hóa khiến cho chúng con tiêu trừ phiền não, cảm động mười phương chẳng có cùng cực. Phật là đấng pháp vương, tôn quý vượt trỗi các bậc thánh, làm thầy của khắp hết thảy trời người, tùy theo tâm nguyện [của từng chúng sanh] khiến cho họ đều đắc đạo. Nay được gặp gỡ đức Phật, lại được nghe âm thanh của Vô Lượng Thọ Phật, không ai chẳng hoan hỷ, tâm được mở mang, thông sáng.

佛告彌勒:汝言是也。若有慈敬於佛者,實為大善。天下久久,乃復有佛。今我於此世作佛,演說經法,宣布道教,斷諸疑網。拔愛欲之本,杜眾惡之源。遊步三界,無所罣礙。典攬智慧,眾道之要。執持綱維,昭然分明。開示五趣,度未度者,決正生死泥洹之道。
Phật cáo Di Lặc: - Nhữ ngôn thị dã. Nhược hữu từ kính ư Phật giả, thật vi đại thiện. Thiên hạ cửu cửu, nãi phục hữu Phật. Kim ngã ư thử thế tác Phật, diễn thuyết kinh pháp, tuyên bố đạo giáo, đoạn chư nghi võng, bạt ái dục chi bổn, đỗ chúng ác chi nguyên, du bộ tam giới, vô sở quái ngại, điển lãm trí huệ, chúng đạo chi yếu, chấp trì cương duy, chiêu nhiên phân minh, khai thị ngũ thú, độ vị độ giả, quyết chánh sanh tử Nê Hoàn chi đạo.
Đức Phật bảo ngài Di Lặc: - Ông nói đúng đấy. Nếu có kẻ từ ái, tôn kính đức Phật, quả thật là rất tốt lành. Trong thiên hạ rất lâu mới lại có Phật. Nay ta làm Phật trong đời này, diễn nói kinh pháp, tuyên dương, lưu truyền đạo giáo, dứt các lưới nghi, dẹp trừ cội rễ ái dục, lấp cội nguồn của các điều ác, dạo chơi trong tam giới chẳng bị ngăn ngại, trí huệ nghiên cứu thấu suốt lẽ trọng yếu của các đạo, nắm giữ giềng mối rạng ngời rành rẽ, chỉ bày năm đường, độ kẻ chưa độ, vạch rõ hai đường Niết Bàn và sanh tử.

彌勒當知:汝從無數劫來,修菩薩行,欲度眾生,其已久遠。從汝得道,至於泥洹,不可稱數。汝及十方諸天人民一切四眾,永劫已來,展轉五道,憂畏勤苦,不可具言。乃至今世,生死不絕,與佛相值,聽受經法,又復得聞無量壽佛,快哉甚善!吾助爾喜。
Di Lặc đương tri, nhữ tùng vô số kiếp lai, tu Bồ Tát hạnh, dục độ chúng sanh, kỳ dĩ cửu viễn. Tùng nhữ đắc đạo, chí ư Nê Hoàn, bất khả xưng số. Nhữ cập thập phương chư thiên nhân dân, nhất thiết tứ chúng, vĩnh kiếp dĩ lai, triển chuyển ngũ đạo, ưu úy cần khổ, bất khả cụ ngôn. Nãi chí kim thế, sanh tử bất tuyệt, dữ Phật tương trị, thính thọ kinh pháp, hựu phục đắc văn Vô Lượng Thọ Phật, khoái tai thậm thiện! Ngô trợ nhĩ hỷ!
Di Lặc hãy nên biết, ông từ vô thỉ kiếp đến nay, tu Bồ Tát hạnh, muốn độ chúng sanh đã lâu xa rồi. Những kẻ do ông mà đắc đạo, cho đến nhập Niết Bàn chẳng thể tính kể số lượng. Ông và mười phương chư thiên nhân dân, hết thảy tứ chúng, từ bao kiếp lâu xa đến nay xoay vần trong năm đường, ưu sầu, lo sợ, nhọc nhằn, chẳng thể nói trọn. Cho đến đời này, sanh tử chẳng dứt, được gặp gỡ Phật, nghe nhận kinh pháp. Lại được nghe về Vô Lượng Thọ Phật, vui thay, rất lành! Ta giúp cho ông đạt được pháp hỷ.

汝今亦可自厭生死老病痛苦,惡露不淨,無可樂者。宜自決斷,端身正行,益作諸善。修己潔淨,洗除心垢。言行忠信,表裏相應。人能自度,轉相拯濟,精明求願,積累善本。雖一世勤苦,須臾之間。後生無量壽國,快樂無極。長與道德合明,永拔生死根本。無復貪恚愚癡苦惱之患,欲壽一劫、百劫、千億萬劫,自在隨意,皆可得之。無為自然,次於泥洹之道。
Nhữ kim diệc khả tự yếm sanh tử lão bệnh thống khổ, ác lộ bất tịnh, vô khả nhạo giả. Nghi tự quyết đoạn, đoan thân chánh hạnh, ích tác chư thiện. Tu kỷ khiết tịnh, tẩy trừ tâm cấu. Ngôn hạnh trung tín, biểu lý tương ứng. Nhân năng tự độ, chuyển tương chửng tế, tinh minh cầu nguyện, tích lũy thiện bổn. Tuy nhất thế cần khổ, Tu Di chi gian, hậu sanh Vô Lượng Thọ quốc, khoái lạc vô cực. Trường dữ đạo đức hợp minh, vĩnh bạt sanh tử căn bổn. Vô phục tham khuể ngu si khổ não chi hoạn, dục thọ nhất kiếp, bách kiếp, thiên ức vạn kiếp, tự tại tùy ý, giai khả đắc chi, vô vi tự nhiên, thứ ư Nê Hoàn chi đạo.
Nay ông cũng nên tự chán nỗi đau khổ vì sanh, tử, già, bệnh, điều ác phơi bày bất tịnh, chẳng đáng ưa thích. Hãy nên dứt khoát đoạn tuyệt, đoan chánh thân hạnh, càng làm các điều thiện nhiều hơn, tu sửa sao cho chính mình trong sạch, gột trừ cấu nhơ trong tâm, lời nói và việc làm trung tín, trong ngoài tương ứng. Người có thể tự độ rồi sẽ lần lượt cứu vớt [kẻ khác], chuyên ròng, sáng suốt cầu nguyện, tích lũy gốc lành, dẫu siêng khổ một đời [chỉ là] trong khoảnh khắc, mai sau sanh vào cõi Vô Lượng Thọ, vui sướng chẳng cùng cực, luôn sáng ngời cùng đạo đức, vĩnh viễn nhổ bỏ cội gốc sanh tử, chẳng còn sợ khổ não vì tham, giận, ngu si. Muốn thọ một kiếp, trăm kiếp, hay ngàn ức vạn kiếp, đều tự tại tùy ý, đều có thể đạt được. Vô vi tự nhiên, chỉ kém đạo Nê Hoàn.

汝等宜各精進,求心所願,無得疑惑中悔,自為過咎。生彼邊地七寶宮殿,五百歲中受諸厄也。
Nhữ đẳng nghi các tinh tấn, cầu tâm sở nguyện, vô đắc nghi hoặc trung hối, tự vi quá cữu, sanh bỉ Biên Địa thất bảo cung điện, ngũ bách tuế trung thọ chư ách dã.
Các ông đều nên tinh tấn, đối với những điều nguyện cầu trong tâm, chớ nên nghi hoặc, hối hận giữa chừng, tự tạo tội lỗi, sanh về cung điện bảy báu trong Biên Địa của cõi ấy, chịu đựng các tai ách trong năm trăm năm.

彌勒白言:受佛重誨,專精修學,如教奉行,不敢有疑。
Di Lặc bạch ngôn: - Thọ Phật trọng hối, chuyên tinh tu học, như giáo phụng hành, bất cảm hữu nghi.
Ngài Di Lặc bạch đức Phật rằng: - Con vâng nhận giáo huấn ân cần của đức Phật, chuyên ròng tu học, vâng làm theo đúng lời dạy, chẳng dám nghi ngờ.

佛告彌勒:汝等能於此世,端心正意,不作眾惡,甚為至德。十方世界,最無倫匹。所以者何?諸佛國土,天人之類,自然作善,不大為惡,易可開化。今我於此世間作佛,處於五惡五痛五燒之中,為最劇苦,教化羣生,令捨五惡,令去五痛,令離五燒,降化其意,令持五善,獲其福德度世長壽泥洹之道。佛言:何等五惡?何等五痛?何等五燒?何等消化五惡,令持五善,獲其福德度世長壽泥洹之道?
Phật cáo Di Lặc: - Nhữ đẳng năng ư thử thế, đoan tâm chánh ý, bất tác chúng ác, thậm vi chí đức. Thập phương thế giới, tối vô luân thất. Sở dĩ giả hà? Chư Phật quốc độ, thiên nhân chi loại, tự nhiên tác thiện, bất đại vi ác, dị khả khai hóa. Kim ngã ư thử thế gian tác Phật, xử ư ngũ ác, ngũ thống, ngũ thiêu chi trung, vi tối kịch khổ, giáo hóa quần sanh, linh xả ngũ ác, linh khử ngũ thống, linh ly ngũ thiêu, hàng hóa kỳ ý, linh trì ngũ thiện, hoạch kỳ phước đức, độ thế, trường thọ, Nê Hoàn chi đạo. Phật ngôn: - Hà đẳng ngũ ác? Hà đẳng ngũ thống? Hà đẳng ngũ thiêu? Hà đẳng tiêu hóa ngũ ác, linh trì ngũ thiện, hoạch kỳ phước đức độ thế trường thọ Nê Hoàn chi đạo?
Đức Phật bảo ngài Di Lặc: - Các ông có thể ở trong đời này, đoan chánh tâm ý, chẳng làm các điều ác, thật là đức hạnh tột cùng, mười phương thế giới khó sánh bằng nhất. Vì cớ sao vậy? Các loài trời người trong các cõi Phật, tự nhiên làm lành, chẳng làm ác quá lớn, có thể khai hóa dễ dàng. Nay ta ở trong thế gian này làm Phật, ở trong năm sự ác, năm sự đau, năm sự đốt, chịu khổ cùng cực nhất, giáo hóa quần sanh, khiến họ bỏ năm sự ác, khiến họ trừ khử năm sự đau, khiến cho họ lìa năm sự đốt, khiến họ giữ năm sự lành, đạt được phước đức, độ đời, sống lâu, đắc đạo Nê Hoàn. Đức Phật nói: - Những gì là năm sự ác? Những gì là năm sự đau? Những gì là năm sự đốt? Những gì sẽ tiêu hóa năm điều ác, khiến họ trì năm sự lành, đạt được phước đức, độ đời, sống lâu, đắc đạo Nê Hoàn?

其一惡者:諸天人民蝡動之類,欲為眾惡,莫不皆然。強者伏弱,轉相剋賊。殘害殺戮,迭相吞噬。不知修善,惡逆無道。後受殃罰,自然趣向。神明記識,犯者不赦。故有貧窮下賤,乞丐孤獨,聾盲瘖啞,愚癡弊惡,至有尫狂不逮之屬。又有尊貴豪富,高才明達,皆由宿世慈孝,修善積德所致。世有常道,王法牢獄,不肯畏慎,為惡入罪,受其殃罰,求望解脫,難得勉出。世間有此目前現事,壽終後世,尤深尤劇。入其幽冥,轉生受身。譬如王法,痛苦極刑。故有自然三塗,無量苦惱。轉貿其身,改形易道。所受壽命,或長或短。魂神精識,自然趣之。當獨值向,相從共生。更相報復,無有止已。殃惡未盡,不得相離。展轉其中,無有出期,難得解脫,痛不可言。天地之間,自然有是,雖不即時卒暴應至,善惡之道,會當歸之。是為一大惡一痛一燒,勤苦如是。譬如大火焚燒人身,人能於中一心制意,端身正行,獨作諸善,不為眾惡者,身獨度脫,獲其福德度世上天泥洹之道,是為一大善也。
Kỳ nhất ác giả: Chư thiên nhân dân nhuyễn động chi loại, dục vi chúng ác, mạc bất giai nhiên. Cường giả phục nhược, chuyển tương khắc tặc, tàn hại sát lục, điệt tương thôn phệ, bất tri tu thiện, ác nghịch vô đạo. Hậu thọ ương phạt, tự nhiên thú hướng. Thần minh ký thức, phạm giả bất xá. Cố hữu bần cùng hạ tiện, khất cái, cô độc, lung, manh, ấm, á, ngu si, tệ ác, chí hữu uông cuồng bất đãi chi thuộc. Hựu hữu tôn quý hào phú, cao tài minh đạt, giai do túc thế từ hiếu, tu thiện tích đức sở trí. Thế hữu thường đạo, vương pháp lao ngục, bất khẳng úy thận, vi ác nhập tội, thọ kỳ ương phạt, cầu vọng giải thoát, nan đắc miễn xuất. Thế gian hữu thử mục tiền hiện sự, thọ chung hậu thế, vưu thâm vưu kịch. Nhập kỳ u minh, chuyển sanh thọ thân. Thí như vương pháp, thống khổ cực hình. Cố hữu tự nhiên tam đồ, vô lượng khổ não, chuyển mậu kỳ thân, cải hình dịch đạo. Sở thọ thọ mạng, hoặc trường, hoặc đoản, hồn thần tinh thức, tự nhiên thú chi. Đương độc trị hướng, tương tùng cộng sanh, cánh tương báo phục, vô hữu chỉ dĩ. Ương ác vị tận, bất đắc tương ly, triển chuyển kỳ trung, vô hữu xuất kỳ, nan đắc giải thoát, thống bất khả ngôn. Thiên địa chi gian, tự nhiên hữu thị, tuy bất tức thời tốt bạo ứng chí, thiện ác chi đạo, hội đương quy chi. Thị vi nhất đại ác, nhất thống, nhất thiêu, cần khổ như thị. Thí như đại hỏa phần thiêu nhân thân, nhân năng ư trung nhất tâm chế ý, đoan thân chánh hạnh, độc tác chư thiện, bất vi chúng ác giả, thân độc độ thoát, hoạch kỳ phước đức, độ thế, thượng thiên, Nê Hoàn chi đạo, thị vi nhất đại thiện dã.
Điều ác thứ nhất là: Chư thiên, nhân dân, các loài trùng bọ, đều muốn làm các điều ác, không ai chẳng phải là như vậy. Kẻ mạnh chèn ép kẻ yếu, đàn áp lẫn nhau, tàn hại, giết chóc, nhai nuốt lẫn nhau. Chẳng biết tu thiện, độc ác, trái nghịch, vô đạo. Về sau hứng chịu tai ương, hình phạt, tự nhiên tiến đến [chỗ phải thọ báo]. Thần minh ghi chép, chẳng dung tha kẻ đã trái phạm. Vì thế có bần cùng, hèn kém, ăn mày, cô độc, điếc, mù, ngọng, câm, ngu si, tệ ác, cho đến có kẻ cuồng dại, thiểu năng. Lại có kẻ tôn quý, có thế lực, giàu có, tài cao, sáng suốt, thông đạt, đều là do đời trước họ nhân từ, hiếu thảo, tu thiện tích đức mà ra. Trong cõi đời có lẽ thường, phép vua, tù ngục, mà họ chẳng chịu kiêng sợ, dè dặt. Do làm ác mắc tội mà bị xử phạt, cầu mong thoát khỏi, khó thể thoát ra. Thế gian có chuyện ở ngay trước mắt như thế. Sau khi hết tuổi thọ, sanh sang đời sau, càng sâu nặng, càng dữ dội hơn! Vào chốn tối tăm, chuyển sanh thọ thân. Ví như cực hình thống khổ trong phép vua. Do vậy, tự nhiên có tam đồ, vô lượng khổ não, lần lượt thọ thân trong ấy, thay hình, đổi nẻo. Nhận lấy thọ mạng hoặc dài hoặc ngắn, hồn thần tinh thức tự nhiên tiến đến [nơi phải thọ sanh], một mình tiến vào, [nghiệp báo] theo kẻ ấy cùng sanh, báo đền lẫn nhau, chẳng hề ngưng dứt. Ương họa, sự ác chưa hết, sẽ chẳng thể rời khỏi. Xoay vần trong ấy, chẳng có thuở ra, khó được giải thoát, đau đớn chẳng thể nói nổi! Trong vòng trời đất, tự nhiên có lẽ ấy, dẫu chẳng ngay lập tức báo ứng dữ dội, nhưng [do nghiệp nhân đã tạo], sẽ tự theo về đường lành, nẻo ác. Đấy là sự ác to lớn thứ nhất, sự đau thứ nhất, sự đốt thứ nhất, nhọc nhằn như thế đó. Ví như lửa lớn thiêu đốt thân người. Ai có thể ở trong ấy mà một dạ kiềm chế tâm ý, đoan chánh thân hạnh, chỉ làm các điều lành, chẳng làm những điều ác, thân riêng được độ thoát, đạt được phước đức, vượt thoát cõi đời, sanh lên trời, đạt được đạo Niết Bàn. Đấy là điều thiện to lớn thứ nhất vậy.

佛言:其二惡者,世間人民,父子兄弟,室家夫婦,都無義理,不順法度。奢淫憍縱,各欲快意。任心自恣,更相欺惑。心口各異,言念無實。佞諂不忠,巧言諛媚。嫉賢謗善,陷入怨枉。主上不明,任用臣下。臣下自在,機偽多端。踐度能行,知其形勢。在位不正,為其所欺。妄損忠良,不當天心。臣欺其君,子欺其父。兄弟夫婦,中外知識,更相欺誑。各懷貪欲瞋恚愚癡。欲自厚己,欲貪多有。尊卑上下,心俱同然。破家亡身,不顧前後。親屬內外,坐之滅族。或時室家知識,鄉黨市里,愚民野人,轉共從事。更相利害,忿成怨結。富有慳惜,不肯施與。愛保貪重,心勞身苦。如是至竟,無所恃怙,獨來獨去,無一隨者。善惡禍福,追命所生。或在樂處,或入苦毒,然後乃悔,當復何及!世間人民,心愚少智,見善憎謗,不思慕及。但欲為惡,妄作非法。常懷盜心,悕望他利。消散磨盡,而復求索。邪心不正,懼人有色。不豫思計,事至乃悔。今世現有王法牢獄,隨罪趣向,受其殃罰。因其前世不信道德,不修善本,今復為惡。天神剋識,別其名籍。壽終神逝,下入惡道。故有自然三塗,無量苦惱。展轉其中,世世累劫,無有出期,難得解脫,痛不可言。是為二大惡二痛二燒,勤苦如是。譬如大火焚燒人身,人能於中一心制意,端身正行,獨作諸善,不為眾惡者,身獨度脫,獲其福德度世上天泥洹之道,是為二大善也。
Phật ngôn: - Kỳ nhị ác giả, thế gian nhân dân, phụ tử, huynh đệ, thất gia, phu phụ, đô vô nghĩa lý, bất thuận pháp độ. Xa dâm kiêu túng, các dục khoái ý. Nhậm tâm tự tứ, cánh tương khi hoặc. Tâm khẩu các dị, ngôn niệm vô thật. Nịnh siểm bất trung, xảo ngôn du mị, tật hiền báng thiện, hãm nhập oan uổng. Chúa thượng bất minh, nhậm dụng thần hạ. Thần hạ tự tại, cơ ngụy đa đoan, tiễn độ năng hành, tri kỳ hình thế, tại vị bất chánh, vi kỳ sở khi, vọng tổn trung lương, bất đáng thiên tâm. Thần khi kỳ quân, tử khi kỳ phụ, huynh đệ phu phụ, trung ngoại tri thức, cánh tương khi cuống, các hoài tham dục, sân khuể, ngu si, dục tự hậu kỷ, dục tham đa hữu. Tôn ty thượng hạ, tâm câu đồng nhiên. Phá gia vong thân, bất cố tiền hậu, thân thuộc nội ngoại, tọa chi diệt tộc. Hoặc thời thất gia tri thức, hương đảng thị lý, ngu dân, dã nhân, chuyển cộng tùng sự, cánh tương lợi hại, phẫn thành oán kết. Phú hữu xan tích, bất khẳng thí dữ. Ái bảo tham trọng, tâm lao thân khổ. Như thị chí cánh, vô sở thị hỗ, độc lai, độc khứ, vô nhất tùy giả. Thiện ác họa phước, truy mạng sở sanh. Hoặc tại lạc xứ, hoặc nhập khổ độc, nhiên hậu nãi hối, đương phục hà cập! Thế gian nhân dân, tâm ngu thiểu trí, kiến thiện tăng báng, bất tư mộ cập, đản dục vi ác, vọng tác phi pháp, thường hoài đạo tâm, hy vọng tha lợi, tiêu tán ma tận, nhi phục cầu sách, tà tâm bất chánh, cụ nhân hữu sắc, bất dự tư kế, sự chí nãi hối. Kim thế hiện hữu vương pháp lao ngục, tùy tội thú hướng, thọ kỳ ương phạt. Nhân kỳ tiền thế bất tín đạo đức, bất tu thiện bổn, kim phục vi ác, thiên thần khắc thức, biệt kỳ danh tịch. Thọ chung thần thệ, hạ nhập ác đạo. Cố hữu tự nhiên tam đồ, vô lượng khổ não. Triển chuyển kỳ trung, thế thế lũy kiếp, vô hữu xuất kỳ, nan đắc giải thoát, thống bất khả ngôn. Thị vi nhị đại ác, nhị thống, nhị thiêu, cần khổ như thị. Thí như đại hỏa phần thiêu nhân thân, nhân năng ư trung nhất tâm chế ý, đoan thân chánh hạnh, độc tác chư thiện, bất vi chúng ác giả, thân độc độ thoát, hoạch kỳ phước đức, độ thế, thượng thiên, Nê Hoàn chi đạo. Thị vi nhị đại thiện dã.
Đức Phật nói: - Sự ác thứ hai là nhân dân trong thế gian, cha con, anh em, vợ chồng trong gia đình, đều chẳng có nghĩa lý, chẳng thuận theo pháp tắc, luật lệ. Xa xỉ, dâm dật, kiêu ngạo, phóng túng, ai nấy chỉ muốn khoái ý, mặc tình buông lung, dối gạt lẫn nhau. Tâm và miệng khác nhau, nói năng, suy nghĩ chẳng thành thật. Nịnh hót, bợ đỡ, bất trung, nói năng hoa mỹ, a dua, ton hót, ghét người hiền, gièm báng người lành, hãm hại họ chịu cảnh oan uổng. Chúa thượng chẳng sáng suốt, tùy tiện trọng dụng bầy tôi. Bầy tôi tự tung tự tác, mưu mẹo, dối trá lắm nỗi, cân nhắc để thực hiện [những âm mưu lừa trên gạt dưới], họ hiểu biết tình thế [để bày mưu tính kế]. Kẻ đang giữ chức mà bất chánh, sẽ bị họ lừa dối, xằng bậy tổn hại bậc trung lương, chẳng hợp lòng trời. Bầy tôi dối vua, con lừa dối cha. Anh em, vợ chồng, kẻ quen biết trong ngoài, dối gạt lẫn nhau. Ai nấy ôm lòng tham dục, nóng giận, ngu si, muốn hậu đãi chính mình, tham muốn được nhiều. Sang, hèn, trên, dưới, tâm đều như nhau! Tan nhà, mất mạng, chẳng đoái trước sau, thân thuộc trong ngoài, do vậy mà diệt tộc. Hoặc là có lúc, gia tộc, người quen biết, xóm giềng, làng nước, những kẻ ngu muội, thô lậu cùng hùa nhau làm, tạo lợi gây hại lẫn nhau, giận dữ kết thành oán thù. Kẻ giàu có thì keo tiếc, chẳng chịu bố thí. Yêu tiền, giữ của, lòng tham nặng nề, tâm mệt, thân khổ. Như thế cho đến khi hết mạng, không nơi nương cậy, một mình đến, một mình đi, chẳng có một ai theo. Thiện, ác, họa, phước, theo mạng mà sanh, hoặc ở chốn vui, hoặc vào nơi khổ độc, sau đấy mới hối, há còn kịp chăng? Nhân dân trong thế gian, tâm ngu, trí kém, thấy người lành càng thêm ghét bỏ, báng bổ, chẳng nghĩ ngưỡng mộ, mong được bằng, chỉ muốn làm ác, xằng bậy làm điều phi pháp, thường ôm lòng trộm cắp, mong mỏi lợi lộc của người khác. [Tiền của kiếm được phi pháp] bị tiêu tan, mòn mất, lại mong cầu, tìm tòi. Tà tâm bất chánh, sợ người khác đẹp đẽ hơn mình. Chẳng suy tính sẵn, chuyện xảy đến mới hối. Trong đời này thì phép vua, lao ngục, tùy theo tội mà tiến vào, chịu đựng trừng phạt. Do kẻ đó đời trước chẳng tin đạo đức, chẳng tu cội lành, nay lại làm ác, thiên thần ghi chép, viết vào sổ sách. Hết tuổi thọ, thần thức rời đi, đọa vào ác đạo. Do vậy, tự nhiên có tam đồ, vô lượng khổ não. Xoay vần trong ấy, đời đời nhiều kiếp, chẳng có thuở ra, khó được giải thoát, đau đớn chẳng thể nói nổi. Đấy là sự ác lớn thứ hai, sự đau thứ hai, sự đốt thứ hai, nhọc nhằn như thế đó. Ví như lửa lớn thiêu đốt thân người, ai có thể ở trong ấy mà một dạ kiềm chế tâm ý, đoan chánh thân hạnh, chỉ làm các điều lành, chẳng làm các điều ác, thân riêng được độ thoát, đạt được phước đức, độ đời, sanh lên trời, đắc đạo Nê Hoàn. Đấy là điều thiện lớn thứ hai vậy.

佛言:其三惡者,世間人民,相因寄生,共居天 地之間。處年壽命,無能幾何?上有賢明長者尊貴豪富;下有貧窮廝賤尫劣愚夫;中有不善之人,常懷邪惡,但念淫泆,煩滿胸中。愛欲交亂,坐起不安。貪意守惜,但欲唐得。眄睞細色,邪態外逸。自妻厭憎,私妄出入。費損家財,事為非法。交結聚會,興師相伐。攻劫殺戮,強奪無道。惡心在外,不自修業。盜竊趣得,欲擊成事。恐勢迫脅,歸給妻子。恣心快意,極身作樂。或於親屬,不避尊卑。家室中外,患而苦之。亦復不畏王法禁令。如是之惡,著於人鬼。日月照見,神明記識。故有自然三塗,無量苦惱。展轉其中,世世累劫,無有出期,難得解脫,痛不可言。是為三大惡三痛三燒,勤苦如是。譬如大火焚燒人身,人能於中一心制意,端身正行,獨作諸善,不為眾惡者,身獨度脫,獲其福德度世上天泥洹之道,是為三大善也。
Phật ngôn: - Kỳ tam ác giả, thế gian nhân dân, tương nhân ký sanh, cộng cư thiên địa chi gian, xử niên thọ mạng, vô năng kỷ hà? Thượng hữu hiền minh trưởng giả, tôn quý hào phú; hạ hữu bần cùng tư tiện uông liệt ngu phu; trung hữu bất thiện chi nhân, thường hoài tà ác, đản niệm dâm dật, phiền mãn hung trung. Ái dục giao loạn, tọa khởi bất an. Tham ý thủ tích, đản dục đường đắc, miện lãi tế sắc, tà thái ngoại dật, tự thê yếm tắng, tư vọng xuất nhập, phí tổn gia tài, sự vi phi pháp, giao kết tụ hội, hưng sư tương phạt, công kiếp sát lục, cưỡng đoạt vô đạo, ác tâm tại ngoại, bất tự tu nghiệp. Đạo thiết thú đắc, dục kích thành sự, khủng thế bách hiếp, quy cấp thê tử. Tứ tâm khoái ý, cực thân tác lạc. Hoặc ư thân thuộc, bất tỵ tôn ty, gia thất trung ngoại, hoạn nhi khổ chi, diệc phục bất úy vương pháp cấm lệnh. Như thị chi ác, trước ư nhân quỷ, nhật nguyệt chiếu kiến, thần minh ký thức. Cố hữu tự nhiên tam đồ, vô lượng khổ não, triển chuyển kỳ trung, thế thế lũy kiếp, vô hữu xuất kỳ, nan đắc giải thoát, thống bất khả ngôn. Thị vi tam đại ác, tam thống, tam thiêu, cần khổ như thị. Thí như đại hỏa phần thiêu nhân thân, nhân năng ư trung nhất tâm chế ý, đoan thân chánh hạnh, độc tác chư thiện, bất vi chúng ác giả, thân độc độ thoát, hoạch kỳ phước đức, độ thế, thượng thiên, Nê Hoàn chi đạo. Thị vi tam đại thiện dã.
Đức Phật nói: - Sự ác thứ ba là nhân dân trong thế gian, do nhờ vào cái nhân mà sống gởi [trong cõi đời], cùng ở trong vòng trời đất, năm tháng thọ mạng, chẳng thể được mấy chốc? Trên thì có bậc hiền minh trưởng giả, tôn quý, có thế lực, giàu có. Dưới thì có kẻ bần cùng, ty tiện, ngu phu điên cuồng, kém cỏi. Giữa thì có kẻ bất thiện, thường ôm lòng tà ác, chỉ nghĩ tới dâm dật, phiền não đầy ắp dạ. Ái dục chen nhau rối bời, ngồi đứng chẳng yên. Ý tham cầu chiếm lấy, mến tiếc, chỉ mong không tốn công mà đạt được, liếc ngó sắc đẹp, tâm thái tà vạy, [thể hiện thành] bề ngoài luông tuồng. Chán ghét vợ nhà, lén lút xằng bậy ra vào. Hao tốn gia tài, khăng khăng làm chuyện trái pháp. Kết giao, tụ hội, kéo bè kết đảng đánh lẫn nhau, công kích, cướp đoạt, giết chóc, cưỡng đoạt, vô đạo đức, ác tâm bộc lộ ra ngoài, chẳng tự tu tỉnh hạnh nghiệp của chính mình. Trộm cắp hòng đạt được, muốn thúc đẩy cho sự việc thành công. [Kẻ khác do] sợ oai thế bức bách, [phải dâng lên. Kẻ đó đoạt lấy], đem về cho vợ con. Mặc tình sướng ý, tận sức theo đuổi hoan lạc. Hoặc là đối với thân thuộc, chẳng tỵ hiềm tôn ty. Trong ngoài gia đình, lo buồn, khổ sở. [Kẻ tà dâm ấy] cũng chẳng sợ phép vua, lệnh cấm. Do sự ác như thế, trở thành quỷ mang hình người, mặt trời, mặt trăng soi tỏ, thần minh ghi chép. Vì thế, tự nhiên có tam đồ, vô lượng khổ não, xoay vần trong đó, đời đời bao kiếp, chẳng có thuở thoát ra, khó được giải thoát, đau đớn chẳng thể nói nổi. Đó là điều ác lớn thứ ba, sự đau thứ ba, sự đốt thứ ba, nhọc nhằn như thế đó. Ví như lửa lớn thiêu đốt thân người. Ai có thể ở trong ấy mà một lòng kiềm chế tâm ý, đoan chánh thân hạnh, chỉ làm các điều thiện, chẳng làm các điều ác, thân riêng được độ thoát, đạt được phước đức, độ đời, sanh lên trời, đắc đạo Nê Hoàn. Đấy là điều lành lớn thứ ba vậy.

佛言:「其四惡者,世間人民,不念修善。轉相教令,共為眾惡。兩舌、惡口、妄言、綺語。讒賊鬭亂,憎嫉善人。敗壞賢明,於傍快喜。不孝二親,輕慢師長。朋友無信,難得誠實,尊貴自大,謂己有道。橫行威勢,侵易於人,不能自知,為惡無恥。自以強健,欲人敬難。不畏天地神明日月,不肯作善,難可降化。自用偃蹇,謂可常爾。無所憂懼,常懷憍慢。如是眾惡,天神記識。賴其前世頗作福德,小善扶接,營護助之。今世為惡,福德盡滅。諸善神鬼,各去離之。身獨空立,無所復依。壽命終盡,諸惡所歸。自然迫促,共趣奪之。又其名籍,記在神明。殃咎牽引,當往趣向。罪報自然,無從捨離。但得前行,入於火鑊。身心摧碎,精神痛苦。當斯之時,悔復何及!天道冏然,不得蹉跌。故有自然三塗,無量苦惱。展轉其中,世世累劫,無有出期,難得解脫,痛不可言。是為四大惡四痛四燒,勤苦如是。譬如大火焚燒人身,人能於中一心制意,端身正行,獨作諸善,不為眾惡,身獨度脫,獲其福德度世上天泥洹之道,是為四大善也。
Phật ngôn: - Kỳ tứ ác giả, thế gian nhân dân, bất niệm tu thiện, chuyển tương giáo lệnh, cộng vi chúng ác, lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ, sàm tặc đấu loạn, tăng tật thiện nhân, bại hoại hiền minh, ư bàng khoái hỷ, bất hiếu nhị thân, khinh mạn sư trưởng, bằng hữu vô tín, nan đắc thành thật, tôn quý tự đại, vị kỷ hữu đạo, hoành hành oai thế, xâm dịch ư nhân, bất năng tự tri, vi ác vô sỉ. Tự dĩ cường kiện, dục nhân kính nạn, bất úy thiên, địa, thần minh, nhật, nguyệt, bất khẳng tác thiện, nan khả hàng hóa. Tự dụng yển kiển, vị khả thường nhĩ. Vô sở ưu cụ, thường hoài kiêu mạn. Như thị chúng ác, thiên thần ký thức. Lại kỳ tiền thế phả tác phước đức, tiểu thiện phù tiếp, doanh hộ trợ chi. Kim thế vi ác, phước đức tận diệt. Chư thiện thần quỷ, các khứ ly chi. Thân độc không lập, vô sở phục y. Thọ mạng chung tận, chư ác sở quy. Tự nhiên bách xúc, cộng thú đoạt chi. Hựu kỳ danh tịch, ký tại thần minh, ương cữu khiên dẫn, đương vãng thú hướng, tội báo tự nhiên, vô tùng xả ly, đản đắc tiền hành, nhập ư hỏa hoạch, thân tâm tồi toái, tinh thần thống khổ. Đương tư chi thời, hối phục hà cập! Thiên đạo quýnh nhiên, bất đắc tha điệt. Cố hữu tự nhiên tam đồ, vô lượng khổ não, triển chuyển kỳ trung, thế thế lũy kiếp, vô hữu xuất kỳ, nan đắc giải thoát, thống bất khả ngôn. Thị vi tứ đại ác, tứ thống, tứ thiêu, cần khổ như thị. Thí như đại hỏa phần thiêu nhân thân, nhân năng ư trung nhất tâm chế ý, đoan thân, chánh hạnh, độc tác chư thiện, bất vi chúng ác, thân độc độ thoát, hoạch kỳ phước đức, độ thế, thượng thiên, Nê Hoàn chi đạo. Thị vi tứ đại thiện dã.
Đức Phật nói: - Sự ác thứ tư là nhân dân trong thế gian chẳng nghĩ tu thiện, lại dạy bảo lẫn nhau cùng làm các chuyện ác: Nói đôi chiều, nói thô ác, nói dối, nói thêu dệt, gièm siểm hãm hại, xúi giục đấu đá rối ren, ganh ghét thiện nhân, bại hoại bậc hiền minh. Kẻ ấy ở bên cạnh [trông thấy kẻ khác do bị xúi giục mà hiềm khích] bèn vui sướng. Chẳng hiếu thảo với cha mẹ, khinh mạn sư trưởng, chẳng giữ chữ tín với bạn bè, khó thể thành thật. Tự cao tự đại mình là bậc tôn quý, tự cho là mình có đạo đức. Cậy vào oai thế mà ngang ngược, xâm phạm, làm hại người khác mà chẳng thể tự biết. Làm ác chẳng hổ thẹn. Tự cậy mình mạnh khỏe, muốn cho người khác kính sợ. Chẳng sợ trời đất, thần minh, mặt trời, mặt trăng, chẳng chịu làm lành, khó thể hàng phục, hóa độ. Tự cao tự đại cho là [mọi sự] sẽ thường hằng, chẳng hề lo lắng, sợ hãi. Thường ôm lòng kiêu căng, ngạo mạn. Các điều ác như thế được thiên thần ghi chép. Nhờ vào đời trước đã tạo phước đức kha khá, [hãy nên] có những điều lành nho nhỏ tiếp nối, giúp sức thêm cho, nhưng đời này làm ác, phước đức tận diệt. Các thiện quỷ thần đều bỏ đi hết, một thân trơ trọi, chẳng còn nương tựa vào đâu được nữa. Thọ mạng kết thúc, các điều ác nhóm về, tự nhiên thúc ép, cùng nhau đoạt lấy. Đã thế, tên tuổi được ghi chép bởi thần minh, ương họa lôi kéo, sẽ tiến đến chỗ [thọ báo]. Tội báo tự nhiên chưa hề lìa bỏ, chỉ đành tiến bước, vào chốn vạc lửa, thân tâm vỡ nát, tinh thần thống khổ. Ngay trong khi ấy, hối làm sao kịp? Đạo trời vằng vặc, chẳng hề sai suyển. Vì thế, tự nhiên có tam đồ, vô lượng khổ não, xoay vần trong ấy, đời đời bao kiếp, chẳng có thuở thoát ra, khó được giải thoát, đau đớn chẳng thể nói nổi. Đấy là điều ác lớn thứ tư, sự đau thứ tư, sự đốt thứ tư, nhọc nhằn như thế đó. Ví như lửa lớn thiêu đốt thân người. Ai có thể ở trong đó mà một dạ kiềm chế tâm ý, đoan chánh thân hạnh, chỉ làm các điều thiện, chẳng làm các điều ác, thân riêng được độ thoát, đạt được phước đức, độ đời, thăng lên trời, đạt được đạo Niết Bàn. Đấy là điều lành lớn thứ tư vậy.

佛言:其五惡者,世間人民,徙倚懈惰,不肯作善,治身修業。家室眷屬,飢寒困苦。父母教誨,瞋目怒應。言令不和,違戾反逆。譬如怨家,不如無子。取與無節,眾共患厭。負恩違義,無有報償之心。貧窮困乏,不能復得。辜較縱奪,放恣遊散。串數唐得,用自賑給。耽酒嗜美,飲食無度。肆心蕩逸,魯扈抵突。不識人情,強欲抑制。見人有善,妬嫉惡之。無義無禮,無所顧難,自用識當,不可諫曉。六親眷屬,所資有無,不能憂念。不惟父母之恩,不存師友之義。心常念惡,口常言惡,身常行惡,曾無一善。不信先聖諸佛經法,不信行道可得度世,不信死後神明更生。不信作善得善,為惡得惡。欲殺真人,鬭亂眾僧。欲害父母兄弟眷屬。六親憎惡,願令其死。如是世人,心意俱然。愚癡蒙昧,而自以智慧。不知生所從來,死所趣向。不仁不順,惡逆天地。而於其中,悕望僥倖。欲求長生,會當歸死。慈心教誨,令其念善。開示生死善惡之趣,自然有是,而不肯信之。苦心與語,無益其人,心中閉塞,意不開解。大命將終,悔懼交至。不豫修善,臨窮方悔。悔之於後,將何及乎?天地之間,五道分明,恢廓窈冥,浩浩茫茫。善惡報應,禍福相承。身自當之,無誰代者。數之自然,應期所行,殃咎追命,無得從捨。善人行善,從樂入樂,從明入明。惡人行惡,從苦入苦,從冥入冥。誰能知者?獨佛知耳。教語開示,信用者少。生死不休,惡道不絕。如是世人,難可具盡。故有自然三塗,無量苦惱。展轉其中,世世累劫,無有出期,難得解脫,痛不可言。是為五大惡五痛五燒,勤苦如是。譬如大火焚燒人身,人能於中一心制意,端身正念,言行相副,所作至誠,所語如語,心口不轉,獨作諸善,不為眾惡,身獨度脫,獲其福德度世上天泥洹之道,是為五 大善也。
Phật ngôn: - Kỳ ngũ ác giả, thế gian nhân dân, tỷ ỷ giải nọa, bất khẳng tác thiện, trị thân tu nghiệp. Gia thất quyến thuộc, cơ hàn khốn khổ. Phụ mẫu giáo hối, sân mục nộ ứng. Ngôn lệnh bất hòa, vi lệ phản nghịch. Thí như oán gia, bất như vô tử. Thủ dữ vô tiết, chúng cộng hoạn yếm. Phụ ân vi nghĩa, vô hữu báo thường chi tâm. Bần cùng khốn phạp, bất năng phục đắc. Cô giảo túng đoạt, phóng tứ du tán, quán sổ đường đắc, dụng tự chẩn cấp. Đam tửu thị mỹ, ẩm thực vô độ. Tứ tâm đãng dật, lỗ hỗ để đột. Bất thức nhân tình, cưỡng dục ức chế. Kiến nhân hữu thiện, đố tật ố chi. Vô nghĩa, vô lễ, vô sở cố nạn, tự dụng thức đáng, bất khả gián hiểu. Lục thân quyến thuộc, sở tư hữu vô, bất năng ưu niệm. Bất duy phụ mẫu chi ân, bất tồn sư hữu chi nghĩa. Tâm thường niệm ác, khẩu thường ngôn ác, thân thường hành ác, tằng vô nhất thiện. Bất tín tiên thánh, chư Phật kinh pháp, bất tín hành đạo khả đắc độ thế, bất tín tử hậu thần minh cánh sanh, bất tín tác thiện đắc thiện, vi ác đắc ác. Dục sát chân nhân, đấu loạn chúng tăng. Dục hại phụ mẫu, huynh đệ, quyến thuộc. Lục thân tắng ố, nguyện linh kỳ tử. Như thị thế nhân, tâm ý câu nhiên. Ngu si mông muội, nhi tự dĩ trí huệ. Bất tri sanh sở tùng lai, tử sở thú hướng. Bất nhân bất thuận, ác nghịch thiên địa, nhi ư kỳ trung, hy vọng kiểu hãnh. Dục cầu trường sanh, hội đương quy tử. Từ tâm giáo hối, linh kỳ niệm thiện. Khai thị sanh tử thiện ác chi thú, tự nhiên hữu thị, nhi bất khẳng tín chi. Khổ tâm dữ ngữ, vô ích kỳ nhân, tâm trung bế tắc, ý bất khai giải, đại mạng tương chung, hối cụ giao chí. Bất dự tu thiện, lâm cùng phương hối. Hối chi ư hậu, tương hà cập hồ? Thiên địa chi gian, ngũ đạo phân minh, khôi khoách yểu minh, hạo hạo mang mang. Thiện ác báo ứng, họa phước tương thừa, thân tự đương chi, vô thùy đại giả. Số chi tự nhiên, ứng kỳ sở hành, ương cữu truy mạng, vô đắc túng xả. Thiện nhân hành thiện, tùng lạc nhập lạc, tùng minh nhập minh. Ác nhân hành ác, tùng khổ nhập khổ, tùng minh nhập minh, thùy năng tri giả? Độc Phật tri nhĩ. Giáo ngữ khai thị, tín dụng giả thiểu, sanh tử bất hưu, ác đạo bất tuyệt. Như thị thế nhân nan khả cụ tận. Cố hữu tự nhiên tam đồ, vô lượng khổ não. Triển chuyển kỳ trung, thế thế lũy kiếp, vô hữu xuất kỳ, nan đắc giải thoát, thống bất khả ngôn. Thị vi ngũ đại ác, ngũ thống, ngũ thiêu, cần khổ như thị. Thí như đại hỏa phần thiêu nhân thân, nhân năng ư trung nhất tâm chế ý, đoan thân chánh niệm, ngôn hạnh tương phó, sở tác chí thành, sở ngữ như ngữ, tâm khẩu bất chuyển, độc tác chư thiện, bất vi chúng ác, thân độc độ thoát, hoạch kỳ phước đức, độ thế, thượng thiên, Nê Hoàn chi đạo, thị vi ngũ đại thiện dã.
Đức Phật nói: - Sự ác thứ năm là nhân dân trong thế gian, lần chần, biếng nhác, chẳng chịu làm lành, tu sửa cái thân, tu tập thiện nghiệp. Vợ con, quyến thuộc, đói rét, khốn khổ. Cha mẹ răn bảo bèn trừng mắt, giận dữ đáp trả. Ăn nói chẳng hòa nhã, trái nghịch, hung hăng, chống đối, ví như oán gia, chẳng bằng không có con! Tiêu xài chẳng có chừng mực, mọi người đều lo rầu, chán ngán. Phụ ân bội nghĩa, chẳng có tâm báo đáp. Nghèo cùng, thiếu hụt, chẳng thể có tiền tài trở lại được! Tạo tội hiển nhiên, phóng túng chiếm đoạt, buông tuồng, phiêu đãng, quen thói đoạt ngang để tự tiêu dùng. Mê rượu, ham vị ngon, ăn uống vô độ. Mặc tình phóng đãng, buông lung, ngu độn, thô lỗ, ương bướng, chẳng biết tình người, [chẳng biết] chế ngự những ham muốn mạnh mẽ. Thấy người khác có điều thiện bèn ganh tỵ, ghét bỏ. Vô nghĩa, vô lễ, chẳng quan tâm hậu quả, tự tiện hành xử theo ý mình, cứ cho như vậy là thích đáng, chẳng thể can gián, khuyên nhủ. Lục thân quyến thuộc có cái để chi dụng hay không, chẳng hề lo nghĩ. Chẳng nhớ tới ân cha mẹ, chẳng màng đạo nghĩa thầy bạn. Tâm thường nghĩ chuyện ác, miệng thường nói lời ác, thân thường làm ác, chưa hề có một điều thiện nào. Chẳng tin kinh pháp của những bậc thánh hiền thuở trước và chư Phật. Chẳng tin hành đạo sẽ có thể độ đời, chẳng tin sau khi chết thần hồn sẽ tái sanh, chẳng tin làm lành sẽ được quả lành, làm ác mắc quả ác. Muốn giết bậc chân nhân, gây rối chúng tăng. Muốn hại cha mẹ, anh em, quyến thuộc. Lục thân ghét bỏ, mong kẻ ấy chết phứt đi. Người đời là như thế đó, tâm ý đều là như vậy. Ngu si, tăm tối, mà cứ nghĩ mình có trí huệ. Chẳng biết sanh từ đâu đến, chết sẽ hướng về đâu, bất nhân, bất thuận, ác nghịch trời đất, thế mà ở trong ấy (sống trong vòng trời đất) vẫn mong mỏi gặp may. Muốn cầu sống lâu, rồi cũng phải chết. [Bậc tri thức] từ tâm khuyên răn, mong cho kẻ ấy tu thiện, khai thị đường sanh tử thiện ác, tự nhiên có đạo lý ấy, nhưng [kẻ ấy] chẳng chịu tin. Khổ tâm bảo ban, chẳng có ích gì cho kẻ đó. Trong tâm bế tắc, ý chẳng hiểu biết, tử vong sắp đến, hối hận lo sợ lẫn lộn. Chẳng tu thiện sẵn, đến bước đường cùng mới hối. Hối hận thì há có kịp chăng? Trong vòng trời đất, năm đường phân minh, rộng lớn, mịt mờ, bát ngát, mênh mông. Thiện ác báo ứng, họa phước nương nhau, thân tự gánh chịu, chẳng ai thay cho! Chiếu theo lẽ tự nhiên, [quả báo] ứng hợp với những gì đã làm, họa ương theo sát cái mạng, chẳng hề bỏ lìa. Người lành làm lành, từ lạc vào lạc, từ sáng vào sáng. Kẻ ác hành ác, từ khổ vào khổ, từ tối vào tối, ai có thể biết? Riêng mình Phật biết! Dạy bảo, khai thị, kẻ tin tưởng, hành theo thì ít. Sanh tử chẳng ngơi, ác đạo chẳng dứt. Người đời như thế đó, khó thể nói trọn. Vì thế, tự nhiên có tam đồ, vô lượng khổ não, xoay vần trong đó, đời đời bao kiếp, chẳng có thuở ra, khó được giải thoát, đau đớn chẳng thể nói nổi. Đấy là sự ác lớn thứ năm, sự đau thứ năm, sự đốt thứ năm, nhọc nhằn như thế đó. Ví như lửa lớn thiêu đốt thân người. Ai có thể ở trong ấy, một dạ kiềm chế tâm ý, đoan thân, chánh niệm, lời nói và hành vi phù hợp nhau, hành xử chí thành, nói lời đúng thật, tâm và miệng chẳng sai chạy, chỉ làm các điều lành, chẳng làm các điều ác, thân riêng được độ thoát, đạt được phước đức, độ đời, thăng lên cõi trời, đắc đạo Niết Bàn. Đấy là điều lành lớn thứ năm vậy.

佛告彌勒:吾語汝等,是世五惡,勤苦若此。五痛五燒,展轉相生。但作眾惡,不修善本,皆悉自然入諸惡趣。或其今世先被殃病,求死不得,求生不得,罪惡所招,示眾見之。身死隨行,入三惡道。苦毒無量,自相燋然。至其久後,共作怨結。從小微起,遂成大惡。皆由貪著財色,不能施惠。癡欲所迫,隨心思想。煩惱結縛,無有解已。厚己諍利,無所省錄。富貴榮華,當時快意。不能忍辱,不務修善。威勢無幾,隨以磨滅。身坐勞苦,久後大劇。天道弛張,自然糺舉,綱維羅網,上下相應,煢煢忪忪,當入其中。古今有是,痛哉可傷!佛語彌勒:世間如是,佛皆哀之。以威神力,摧滅眾惡,悉令就善。棄捐所思,奉持經戒。受行道法,無所違失。終得度世泥洹之道。
Phật cáo Di Lặc: - Ngô ngữ nhữ đẳng, thị thế ngũ ác, cần khổ nhược thử. Ngũ thống, ngũ thiêu, triển chuyển tương sanh, đản tác chúng ác, bất tu thiện bổn, giai tất tự nhiên nhập chư ác thú. Hoặc kỳ kim thế tiên bị ương bệnh, cầu tử bất đắc, cầu sanh bất đắc, tội ác sở chiêu, thị chúng kiến chi. Thân tử tùy hành, nhập tam ác đạo, khổ độc vô lượng, tự tương tiêu nhiên. Chí kỳ cửu hậu, cộng tác oán kết, tùng tiểu vi khởi, toại thành đại ác, giai do tham trước tài sắc, bất năng thí huệ. Si dục sở bách, tùy tâm tư tưởng, phiền não kết phược, vô hữu giải dĩ. Hậu kỷ tranh lợi, vô sở tỉnh lục. Phú quý vinh hoa, đương thời khoái ý, bất năng nhẫn nhục, bất vụ tu thiện. Oai thế vô kỷ, tùy dĩ ma diệt, thân tọa lao khổ, cửu hậu đại kịch. Thiên đạo thỉ trương, tự nhiên củ cử, cương duy la võng, thượng hạ tương ứng, quỳnh quỳnh chung chung, đương nhập kỳ trung. Cổ kim hữu thị, thống tai khả thương! Phật ngữ Di Lặc: - Thế gian như thị, Phật giai ai chi. Dĩ oai thần lực, tồi diệt chúng ác, tất linh tựu thiện, khí quyên sở tư, phụng trì kinh giới, thọ hành đạo pháp, vô sở vi thất, chung đắc độ thế, Nê Hoàn chi đạo.
Đức Phật bảo ngài Di Lặc: - Ta nói với các ông, đấy là năm sự ác trong cõi đời, nhọc nhằn như thế đó. Năm sự đau, năm sự đốt, lần lượt sanh ra nhau. Chỉ làm các điều ác, chẳng tu cội lành, thảy đều tự nhiên vào trong các đường ác. Hoặc là trong đời này, trước hết mắc phải bệnh ngặt, cầu chết chẳng được, cầu sống chẳng xong! Do tội ác chiêu cảm, phô bày cho mọi người trông thấy. Thân chết rồi, sẽ theo [ác nghiệp đã tạo] mà vào trong ba đường ác, khổ độc vô lượng, tự bị thiêu đốt. Đến lúc lâu sau, cùng nhau tạo thành oán kết. Khởi đầu từ chuyện nhỏ nhặt mà dần dần trở thành điều ác to lớn, đều do tham đắm tài sắc, chẳng thể bố thí, tạo ân huệ, bị si dục bức bách, thuận theo điều suy nghĩ trong tâm, phiền não trói buộc, chẳng thể cởi gỡ, đối xử trọng hậu với chính mình, tranh giành lợi lộc, chẳng hề phản tỉnh, thâu liễm. Phú quý, vinh hoa, sướng ý trong khi đó, chẳng thể nhẫn nhục, chẳng chú trọng tu thiện. Oai thế được mấy chốc, rồi sẽ mòn diệt, thân vướng phải nỗi nhọc nhằn, khổ sở, lâu sau trở thành hết sức dữ dội. Đạo trời hoãn đãi hoặc khẩn cấp, tự nhiên uốn nắn, xem xét, giềng mối lưới rập, trên dưới tương ứng, trơ trọi, run rẩy, sa thân vào đó. Xưa nay là như thế, đau đớn đáng thương thay. Đức Phật bảo ngài Di Lặc: - Thế gian là như vậy, Phật luôn thương xót, dùng sức oai thần dẹp tan các sự ác, ắt đều khiến cho [chúng sanh] hướng về điều lành, buông bỏ những điều suy nghĩ, vâng giữ kinh giới, tiếp nhận, thực hành đạo pháp, đừng nên chống trái, đánh mất, rốt cuộc sẽ đạt được đạo độ đời, chứng nhập Niết Bàn.

佛言:汝今諸天人民,及後世人,得佛經語,當熟思之。能於其中端心正行。主上為善,率化其下。轉相勅令,各自端守。尊聖敬善,仁慈博愛。佛語教誨,無敢虧負。當求度世,拔斷生死眾惡之本。當離三塗無量憂怖苦痛之道。汝等於是廣植德本,布恩施惠,勿犯道禁。忍辱精進,一心智慧。轉相教化,為德立善。正心正意,齋戒清淨一日一夜,勝在無量壽國為善百歲。所以者何?彼佛國土,無為自然,皆積眾善,無毛髮之惡。於此修善,十日十夜,勝於他方諸佛國中為善千歲。所以者何?他方佛國,為善者多,為惡者少,福德自然,無造惡之地。唯此間多惡,無有自然,勤苦求欲,轉相欺殆。心勞形困,飲苦食毒。如是惡務,未嘗寧息。吾哀汝等天人之類,苦心誨喻,教令修善。隨宜開導,授與經法,莫不承用。在意所願,皆令得道。佛所遊履,國邑丘聚,靡不蒙化。天下和順,日月清明。風雨以時,災厲不起。國豐民安,兵戈無用。崇德興仁,務修禮讓。佛言:我哀愍汝等諸天人民,甚於父母念子。今我於此世作佛,降化五惡,消除五痛,絕滅五燒。以善攻惡,拔生死之苦。令獲五德,升無為之安。吾去世後,經道漸滅,人民諂偽,復為眾惡。五燒五痛,還如前法。久後轉劇,不可悉說,我但為汝略言之耳。佛語彌勒:汝等各善思之,轉相教誡,如佛經法,無得犯也。於是彌勒菩薩,合掌白言:佛所說甚善,世人實爾。如來普慈哀愍,悉令度脫,受佛重誨,不敢違失。
Phật ngôn: - Nhữ kim chư thiên nhân dân, cập hậu thế nhân, đắc Phật kinh ngữ, đương thục tư chi. Năng ư kỳ trung đoan tâm, chánh hạnh. Chúa thượng vi thiện, suất hóa kỳ hạ, chuyển tương sắc lệnh, các tự đoan thủ, tôn thánh kính thiện, nhân từ bác ái. Phật ngữ giáo hối, vô cảm khuy phụ. Đương cầu độ thế, bạt đoạn sanh tử chúng ác chi bổn, đương ly tam đồ vô lượng ưu bố khổ thống chi đạo. Nhữ đẳng ư thị quảng thực đức bổn, bố ân thí huệ, vật phạm đạo cấm, nhẫn nhục, tinh tấn, nhất tâm trí huệ, chuyển tương giáo hóa, vi đức lập thiện, chánh tâm, chánh ý, trai giới thanh tịnh nhất nhật, nhất dạ, thắng tại Vô Lượng Thọ quốc vi thiện bách tuế. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc độ, vô vi tự nhiên, giai tích chúng thiện, vô mao phát chi ác. Ư thử tu thiện, thập nhật, thập dạ, thắng ư tha phương chư Phật quốc trung vi thiện thiên tuế. Sở dĩ giả hà? Tha phương Phật quốc, vi thiện giả đa, vi ác giả thiểu, phước đức tự nhiên, vô tạo ác chi địa. Duy thử gian đa ác, vô hữu tự nhiên, cần khổ cầu dục, chuyển tương khi đãi. Tâm lao hình khốn, ẩm khổ thực độc. Như thị ác vụ, vị thường ninh tức. Ngô ai nhữ đẳng thiên nhân chi loại, khổ tâm hối dụ, giáo linh tu thiện, tùy nghi khai đạo, thọ dữ kinh pháp, mạc bất thừa dụng, tại ý sở nguyện, giai linh đắc đạo. Phật sở du lý, quốc ấp khâu tụ, mị bất mông hóa. Thiên hạ hòa thuận, nhật nguyệt thanh minh, phong vũ dĩ thời, tai lệ bất khởi, quốc phong dân an, binh qua vô dụng, sùng đức hưng nhân, vụ tu lễ nhượng. Phật ngôn: - Ngã ai mẫn nhữ đẳng chư thiên nhân dân, thậm ư phụ mẫu niệm tử. Kim ngã ư thử thế tác Phật, hàng hóa ngũ ác, tiêu trừ ngũ thống, tuyệt diệt ngũ thiêu. Dĩ thiện công ác, bạt sanh tử chi khổ, linh hoạch ngũ đức, thăng vô vi chi an. Ngô khứ thế hậu, kinh đạo tiệm diệt, nhân dân siểm ngụy, phục vi chúng ác. Ngũ thiêu, ngũ thống, hoàn như tiền pháp, cửu hậu chuyển kịch, bất khả tất thuyết, ngã đản vị nhữ lược ngôn chi nhĩ. Phật ngữ Di Lặc: - Nhữ đẳng các thiện tư chi, chuyển tương giáo giới, như Phật kinh pháp, vô đắc phạm dã. Ư thị, Di Lặc Bồ Tát hiệp chưởng bạch ngôn: - Phật sở thuyết thậm thiện, thế nhân thật nhĩ. Như Lai phổ từ ai mẫn, tất linh độ thoát, thọ Phật trọng hối, bất cảm vi thất.
Đức Phật nói: - Nay các ông là chư thiên, nhân dân và những người đời sau có được lời giảng kinh của Phật, hãy nên suy nghĩ chín chắn, có thể từ trong ấy mà đoan nghiêm cái tâm, chánh đáng cái hạnh. Chúa thượng làm lành, xướng suất hóa độ thuộc hạ, truyền dạy lẫn nhau, ai nấy tự giữ mình đoan chánh, tôn trọng bậc thánh, kính trọng người lành, nhân từ, bác ái. Đối với lời Phật răn dạy, chẳng dám thiếu sót, cô phụ, hãy nên mong hóa độ cõi đời, dẹp dứt cội gốc của sanh tử và các điều ác, sẽ lìa đường nẻo tam đồ vô lượng ưu sầu, sợ hãi, đau khổ. Do vậy, các ông hãy rộng trồng cội lành, ban ân thí huệ, đừng phạm giới cấm, nhẫn nhục, tinh tấn, nhất tâm trí huệ, lần lượt giáo hóa lẫn nhau, tạo đức, làm lành, chánh tâm, chánh ý, trai giới thanh tịnh một ngày, một đêm, hơn làm lành cả trăm năm trong cõi Vô Lượng Thọ. Vì cớ sao vậy? Cõi nước Phật ấy, vô vi tự nhiên, đều là tích lũy các điều lành, chẳng có mảy may điều ác. Tu thiện ở nơi đây (cõi Sa Bà) mười ngày, mười đêm, vượt trỗi làm lành ngàn năm trong các cõi Phật ở phương khác. Vì cớ sao vậy? Các cõi Phật ở phương khác, kẻ làm lành nhiều, kẻ làm ác ít, phước đức tự nhiên, chẳng có chỗ tạo ác. Chỉ trong cõi này là nhiều điều ác, chẳng tự nhiên, nhọc nhằn mong cầu, lần lượt lường gạt, hãm hại nhau. Tâm mệt, thân nhọc, uống khổ, ăn độc. Những chuyện ác như thế chưa hề ngưng nghỉ. Ta thương xót các loài trời người các ông, khổ tâm răn dạy, khuyên nhủ, dạy hãy tu thiện, tùy theo cơ nghi mà khơi gợi, hướng dẫn, trao truyền kinh pháp, không ai chẳng vâng theo hành trì, theo như ý nguyện đều khiến cho họ đắc đạo. Đức Phật đi đến nơi nào, quốc gia, thành thị, gò đống, xóm giềng, không ai chẳng được giáo hóa. Thiên hạ hòa thuận, mặt trời, mặt trăng trong sáng, mưa gió đúng thời, tai ương chẳng dấy lên, nước giàu, dân yên, binh khí vô dụng, tôn sùng đức hạnh, hưng khởi điều nhân, chú trọng tu tập lễ nghĩa, nhân nhượng. Đức Phật nói: - Ta thương xót chư thiên, nhân dân các ông còn hơn cha mẹ nghĩ đến con. Nay ta làm Phật trong cõi này, hàng phục năm sự ác, tiêu trừ năm sự đau, dứt bặt năm sự đốt. Dùng thiện để trừ ác, dẹp trừ nỗi khổ sanh tử, khiến cho đạt được ngũ đức, đạt tới sự an định vô vi. Sau khi ta qua đời, kinh đạo sẽ dần dần bị diệt, nhân dân siểm ngụy, lại làm các điều ác. Năm sự đốt, năm sự đau, sẽ lại như trước, lâu sau chuyển thành dữ dội, chẳng thể nói trọn. Ta nay chỉ vì các ông nói đại lược đó thôi! Đức Phật bảo ngài Di Lặc: - Các ông ai nấy hãy khéo suy nghĩ, lần lượt răn dạy lẫn nhau, hãy theo đúng kinh pháp của Phật, đừng nên trái phạm. Ngay khi đó, Di Lặc Bồ Tát chắp tay, bạch rằng: - Đức Phật nói rất lành, người đời thật sự là như vậy. Đức Như Lai lòng từ thương xót trọn khắp, đều độ cho họ được giải thoát. Chúng con vâng nhận lời răn dạy trịnh trọng của đức Phật, chẳng dám trái nghịch, quên mất.

佛告阿難:汝起,更整衣服,合掌恭敬,禮無量壽佛。十方國土諸佛如來,常共稱揚讚歎彼佛,無著無礙。
Phật cáo A Nan: - Nhữ khởi, cánh chỉnh y phục, hiệp chưởng cung kính, lễ Vô Lượng Thọ Phật. Thập phương quốc độ chư Phật Như Lai, thường cộng xưng dương, tán thán bỉ Phật, vô trước, vô ngại.
Đức Phật bảo ngài A Nan: - Ông hãy đứng dậy, chỉnh đốn y phục, chắp tay cung kính lễ Vô Lượng Thọ Phật. Chư Phật Như Lai trong mười phương quốc độ thường cùng xưng dương, tán thán đức Phật ấy không chấp trước, không ngăn ngại.

於是阿難起整衣服,正身西面,恭敬合掌,五體投地,禮無量壽佛。白言:世尊,願見彼佛安樂國土,及諸菩薩聲聞大眾。
Ư thị, A Nan khởi chỉnh y phục, chánh thân Tây diện, cung kính hiệp chưởng, ngũ thể đầu địa, lễ Vô Lượng Thọ Phật, bạch ngôn: - Thế Tôn! Nguyện kiến bỉ Phật An Lạc quốc độ, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đại chúng.
Ngay khi ấy, ngài A Nan đứng dậy, chỉnh đốn y phục, giữ tư thế đoan chánh, hướng về phía Tây, cung kính chắp tay, năm vóc gieo xuống đất, lễ Vô Lượng Thọ Phật, bạch rằng: - Bạch Thế Tôn! Nguyện thấy đức Phật ấy, cõi nước An Lạc, và các hàng Bồ Tát, Thanh Văn, đại chúng.

說是語已,即時無量壽佛,放大光明,普照一切諸佛世界。金剛圍山、須彌山王、大小諸山,一切所有,皆同一色。譬如劫水彌滿世界,其中萬物沈沒不現,滉瀁浩汗,唯見大水,彼佛光明,亦復如是。聲聞菩薩一切光明,皆悉隱蔽,唯見佛光,明耀顯赫。
Thuyết thị ngữ dĩ, tức thời Vô Lượng Thọ Phật, phóng đại quang minh, phổ chiếu nhất thiết chư Phật thế giới, Kim Cang vi sơn, Tu Di sơn vương, đại tiểu chư sơn, nhất thiết sở hữu, giai đồng nhất sắc. Thí như kiếp thủy, di mãn thế giới, kỳ trung vạn vật trầm một bất hiện, hoảng dưỡng hạo hãn, duy kiến đại thủy, bỉ Phật quang minh, diệc phục như thị. Thanh Văn, Bồ Tát nhất thiết quang minh, giai tất ẩn tế, duy kiến Phật quang, minh diệu hiển hách.
Nói lời ấy xong, ngay lập tức Vô Lượng Thọ Phật phóng quang minh lớn, chiếu trọn khắp hết thảy các thế giới của chư Phật, núi Kim Cang, Thiết Vi, núi chúa Tu Di, các núi lớn nhỏ, hết thảy tất cả đều cùng một màu. Ví như lúc kiếp thủy ngập tràn thế giới, vạn vật trong ấy đều chìm ngập, chẳng hiện, mênh mông, bát ngát, chỉ thấy nước lụt. Quang minh của đức Phật ấy cũng giống như thế, hết thảy quang minh của Thanh Văn, Bồ Tát thảy đều ẩn lấp, chỉ thấy Phật quang sáng ngời rực rỡ.

爾時阿難,即見無量壽佛,威德巍巍,如須彌山王,高出一切諸世界上,相好光明,靡不照耀。此會四眾,一時悉見。彼見此土,亦復如是。
Nhĩ thời A Nan tức kiến Vô Lượng Thọ Phật, oai đức nguy nguy, như Tu Di sơn vương, cao xuất nhất thiết chư thế giới thượng, tướng hảo, quang minh, mị bất chiếu diệu. Thử hội tứ chúng, nhất thời tất kiến. Bỉ kiến thử độ, diệc phục như thị.
Lúc bấy giờ, ngài A Nan liền thấy Vô Lượng Thọ Phật oai đức vòi vọi, như núi chúa Tu Di cao vượt trỗi hết thảy các thế giới, tướng hảo, quang minh, không đâu chẳng chiếu sáng rực. Tứ chúng trong hội này cùng lúc đều trông thấy. Chúng sanh trong cõi kia trông thấy cõi này cũng giống như vậy.

爾時,佛告阿難及慈氏菩薩:汝見彼國,從地已上,至淨居天,其中所有微妙嚴淨自然之物,為悉見不?阿難對曰:唯然,已見。汝寧復聞無量壽佛大音宣布一切世界化眾生不?阿難對曰:唯然,已聞。彼國人民,乘百千由旬七寶宮殿,無所障礙,徧至十方供養諸佛,汝復見不?對曰:已見。彼國人民有胎生者,汝復見不?對曰:已見。其胎生者,所處宮殿,或百由旬,或五百由旬,各於其中受諸快樂,如忉利天上,亦皆自然。爾時慈氏菩薩白佛言:世尊!何因何緣,彼國人民,胎生、化生?佛告慈氏:若有眾生,以疑惑心,修諸功德,願生彼國。不了佛智、不思議智、不可稱智、大乘廣智、無等無倫最上勝智,於此諸智,疑惑不信。然猶信罪福,修習善本,願生其國。此諸眾生,生彼宮殿,壽五百歲,常不見佛,不聞經法,不見菩薩聲聞聖眾。是故於彼國土,謂之胎生。若有眾生,明信佛智,乃至勝智,作諸功德,信心迴向。此諸眾生,於七寶華中,自然化生,跏趺而坐。須臾之頃,身相光明,智慧功德,如諸菩薩具足成就。復次慈氏!他方諸大菩薩,發心欲見無量壽佛,恭敬供養,及諸菩薩聲聞聖眾。彼菩薩等,命終得生無量壽國,於七寶華中,自然化生。彌勒當知!彼化生者,智慧勝故。其胎生者,皆無智慧,於五百歲中,常不見佛,不聞經法,不見菩薩諸聲聞眾。無由供養於佛,不知菩薩法式,不得修習功德。當知此人,宿世之時,無有智慧,疑惑所致。佛告彌勒:譬如轉輪聖王,有七寶牢獄,種種莊嚴,張設床帳,懸諸繒蓋。若有諸小王子,得罪於王,輒內彼獄中,繫以金鎖。供養飯食衣服床蓐,華香伎樂,如轉輪王,無所乏少。於意云何?此諸王子,寧樂彼處不?對曰:不也!但種種方便,求諸大力,欲自勉出。佛告彌勒:此諸眾生,亦復如是。以疑惑佛智故,生彼七寶宮殿,無有刑罰,乃至一念惡事。但於五百歲中,不見三寶,不得供養修諸善本,以此為苦。雖有餘樂,猶不樂彼處。若此眾生,識其本罪,深自悔責,求離彼處,即得如意,往詣無量壽佛所,恭敬供養,亦得徧至無量無數諸餘佛所,修諸功德。彌勒當知!其有菩薩,生疑惑者,為失大利。是故應當明信諸佛無上智慧。
Nhĩ thời, Phật cáo A Nan cập Từ Thị Bồ Tát: - Nhữ kiến bỉ quốc, tùng địa dĩ thượng, chí Tịnh Cư Thiên, kỳ trung sở hữu vi diệu nghiêm tịnh tự nhiên chi vật, vi tất kiến phủ? A Nan đối viết: - Dụy nhiên, dĩ kiến. - Nhữ ninh phục văn Vô Lượng Thọ Phật đại âm tuyên bố nhất thiết thế giới hóa chúng sanh phủ? A Nan đối viết: - Dụy nhiên, dĩ văn. - Bỉ quốc nhân dân, thừa bách thiên do-tuần thất bảo cung điện, vô sở chướng ngại, biến chí thập phương cúng dường chư Phật, nhữ phục kiến phủ? Đối viết: - Dĩ kiến. - Bỉ quốc nhân dân hữu thai sanh giả, nhữ phục kiến phủ? Đối viết: - Dĩ kiến. - Kỳ thai sanh giả, sở xử cung điện, hoặc bách do-tuần, hoặc ngũ bách do-tuần, các ư kỳ trung, thọ chư khoái lạc, như Đao Lợi thiên thượng, diệc giai tự nhiên. Nhĩ thời, Từ Thị Bồ Tát bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Hà nhân, hà duyên, bỉ quốc nhân dân, thai sanh, hóa sanh? Phật cáo Từ Thị: - Nhược hữu chúng sanh, dĩ nghi hoặc tâm, tu chư công đức, nguyện sanh bỉ quốc, bất liễu Phật trí, bất tư nghị trí, bất khả xưng trí, Đại Thừa quảng trí, vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí, ư thử chư trí, nghi hoặc bất tín. Nhiên do tín tội phước, tu tập thiện bổn, nguyện sanh kỳ quốc. Thử chư chúng sanh, sanh bỉ cung điện, thọ ngũ bách tuế, thường bất kiến Phật, bất văn kinh pháp, bất kiến Bồ Tát, Thanh Văn thánh chúng. Thị cố ư bỉ quốc độ, vị chi thai sanh. Nhược hữu chúng sanh, minh tín Phật trí, nãi chí thắng trí, tác chư công đức, tín tâm hồi hướng. Thử chư chúng sanh, ư thất bảo hoa trung, tự nhiên hóa sanh, già phu nhi tọa, tu du chi khoảnh, thân tướng, quang minh, trí huệ, công đức như chư Bồ Tát cụ túc thành tựu. Phục thứ Từ Thị! Tha phương chư đại Bồ Tát, phát tâm dục kiến Vô Lượng Thọ Phật, cung kính cúng dường, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn thánh chúng. Bỉ Bồ Tát đẳng, mạng chung đắc sanh Vô Lượng Thọ quốc, ư thất bảo hoa trung, tự nhiên hóa sanh. Di Lặc đương tri! Bỉ hóa sanh giả, trí huệ thắng cố. Kỳ thai sanh giả, giai vô trí huệ, ư ngũ bách tuế trung, thường bất kiến Phật, bất văn kinh pháp, bất kiến Bồ Tát, chư Thanh Văn chúng, vô do cúng dường ư Phật, bất tri Bồ Tát pháp thức, bất đắc tu tập công đức. Đương tri thử nhân, túc thế chi thời, vô hữu trí huệ, nghi hoặc sở trí. Phật cáo Di Lặc: - Thí như Chuyển Luân thánh vương, hữu thất bảo lao ngục, chủng chủng trang nghiêm, trương thiết sàng trướng, huyền chư tăng cái. Nhược hữu chư tiểu vương tử, đắc tội ư vương, triếp nội bỉ ngục trung, hệ dĩ kim tỏa. Cúng dường phạn thực, y phục, sàng nhục, hoa hương, kỹ nhạc, như Chuyển Luân vương, vô sở phạp thiểu. Ư ý vân hà? Thử chư vương tử, ninh nhạo bỉ xứ phủ? Đối viết: - Bất dã! Đản chủng chủng phương tiện, cầu chư đại lực, dục tự miễn xuất. Phật cáo Di Lặc: - Thử chư chúng sanh, diệc phục như thị. Dĩ nghi hoặc Phật trí cố, sanh bỉ thất bảo cung diện, vô hữu hình phạt, nãi chí nhất niệm ác sự, đản ư ngũ bách tuế trung, bất kiến Tam Bảo, bất đắc cúng dường, tu chư thiện bổn, dĩ thử vi khổ. Tuy hữu dư lạc, do bất nhạo bỉ xứ. Nhược thử chúng sanh, thức kỳ bổn tội, thâm tự hối trách, cầu ly bỉ xứ, tức đắc như ý, vãng nghệ Vô Lượng Thọ Phật sở, cung kính cúng dường, diệc đắc biến chí vô lượng vô số chư dư Phật sở, tu chư công đức. Di Lặc đương tri! Kỳ hữu Bồ Tát, sanh nghi hoặc giả, vi thất đại lợi. Thị cố ưng đương minh tín chư Phật vô thượng trí huệ.
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo ngài A Nan và Từ Thị Bồ Tát: - Ông thấy cõi ấy, từ mặt đất trở lên cho đến cõi trời Tịnh Cư, tất cả những vật tự nhiên vi diệu trang nghiêm, thanh tịnh trong ấy, ông có đều trông thấy hay chăng? Ngài A Nan thưa: - Vâng ạ, con đã thấy. - Ông lại còn nghe âm thanh to lớn của Vô Lượng Thọ Phật tuyên bố trong hết thảy các thế giới để giáo hóa chúng sanh hay chăng? Ngài A Nan thưa: - Vâng ạ, con đã nghe. - Nhân dân trong cõi ấy cưỡi cung điện bảy báu to trăm ngàn do-tuần chẳng bị chướng ngại đến trọn khắp mười phương cúng dường chư Phật, ông lại có thấy hay không? Thưa rằng: - Con đã thấy. - Nhân dân trong cõi ấy có kẻ thai sanh, ông lại có thấy hay chăng? Thưa rằng: - Đã thấy. - Kẻ thai sanh ở trong cung điện, hoặc to một trăm do-tuần, hoặc năm trăm do-tuần, ai nấy ở trong đó hưởng những sự vui sướng như trên cõi trời Đao Lợi cũng đều là tự nhiên. Lúc bấy giờ, Từ Thị Bồ Tát bạch đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà nhân dân trong cõi ấy có thai sanh và hóa sanh? Đức Phật bảo ngài Từ Thị: - Nếu có chúng sanh dùng cái tâm ngờ vực để tu các công đức, nguyện sanh về cõi ấy, chẳng hiểu rõ Phật trí, trí chẳng thể nghĩ bàn, trí chẳng thể diễn tả, trí Đại Thừa rộng lớn, trí tối thượng thù thắng không sánh bằng, đối với các trí ấy, ngờ vực chẳng tin, nhưng vẫn tin tội phước, tu tập cội lành, nguyện sanh về cõi ấy. Các chúng sanh đó sống trong cung điện ấy, thọ năm trăm năm, thường chẳng thấy Phật, chẳng nghe kinh pháp, chẳng thấy Bồ Tát, Thanh Văn thánh chúng. Do vậy, ở trong cõi nước ấy, được gọi là “thai sanh”. Nếu có chúng sanh tin hiểu rõ ràng Phật trí cho đến thắng trí, làm các công đức, tín tâm hồi hướng. Các chúng sanh ấy ở trong hoa bảy báu, tự nhiên hóa sanh, ngồi xếp bằng, trong khoảnh khắc, thân tướng, quang minh, trí huệ, công đức thành tựu trọn đủ như các vị Bồ Tát. Lại nữa, Từ Thị! Các vị đại Bồ Tát ở phương khác phát tâm muốn thấy Vô Lượng Thọ Phật, các vị Bồ Tát, Thanh Văn thánh chúng để cung kính cúng dường, hàng Bồ Tát ấy mạng chung sẽ được sanh về cõi Vô Lượng Thọ, tự nhiên hóa sanh trong hoa bảy báu. Di Lặc hãy nên biết! Người hóa sanh ấy do trí huệ thù thắng, còn kẻ thai sanh đều là không có trí huệ, trong năm trăm năm, thường chẳng thấy Phật, chẳng nghe kinh pháp, chẳng thấy các vị Bồ Tát và Thanh Văn, không có cách nào cúng dường Phật, chẳng biết pháp thức của Bồ Tát, chẳng được tu tập công đức. Hãy nên biết người ấy trong đời trước chẳng có trí huệ, do nghi hoặc mà nên nỗi! Phật cáo Di Lặc: - Ví như Chuyển Luân thánh vương có lao ngục bằng bảy báu, các thứ trang nghiêm, xếp đặt giường, màn, treo các phan, lọng. Nếu có các tiểu vương tử mắc tội với vua, liền bị giam vào trong ngục ấy, dùng xích vàng trói lại. Họ được cung cấp cơm ăn, y phục, giường, đệm, hoa, hương, kỹ nhạc, như vua Chuyển Luân, chẳng bị thiếu thốn, ý ông nghĩ sao? Các vương tử ấy có ưa thích nơi đó hay chăng? Thưa rằng: - Không ạ! Họ chỉ dùng đủ mọi phương tiện, cầu cứu những người có thế lực lớn, mong được thoát ra. Đức Phật bảo ngài Di Lặc: - Các chúng sanh ấy cũng giống như thế. Do nghi hoặc Phật trí, sanh trong cung điện bảy báu ấy, chẳng có hình phạt, cho đến chẳng có sự ác trong khoảng một niệm, chỉ là trong năm trăm năm, chẳng thấy Tam Bảo, chẳng được cúng dường, tu các cội lành, coi đó là khổ. Tuy có các điều vui khác, vẫn chẳng ưa thích chỗ đó! Nếu các chúng sanh ấy, biết rõ cái tội gốc của chính mình, tự hối hận, tự trách sâu xa, cầu lìa chốn ấy, liền được như ý, đến chỗ Vô Lượng Thọ Phật, cung kính cúng dường, cũng được đến trọn khắp vô lượng vô số chỗ của các vị Phật khác, tu các công đức. Di Lặc hãy nên biết! Nếu có Bồ Tát, sanh lòng ngờ vực, sẽ đánh mất lợi ích to lớn. Vì thế, hãy nên tin tưởng rành rẽ trí huệ vô thượng của chư Phật.

彌勒菩薩白佛言:世尊!於此世界,有幾所不退菩薩,生彼佛國?佛告彌勒:於此世界,有六十七億不退菩薩,往生彼國。一一菩薩,已曾供養無數諸佛,次如彌勒者也。諸小行菩薩,及修習少功德者,不可稱計,皆當往生。佛告彌勒:不但我剎諸菩薩等,往生彼國。他方佛土,亦復如是。其第一佛,名曰遠照,彼有百八十億菩薩,皆當往生。其第二佛,名曰寶藏,彼有九十億菩薩,皆當往生。其第三佛,名曰無量音,彼有二百二十億菩薩,皆當往生。其第四佛,名曰甘露味,彼有二百五十億菩薩,皆當往生。其第五佛,名曰龍勝,彼有十四億菩薩,皆當往生。其第六佛,名曰勝力,彼有萬四千菩薩,皆當往生。其第七佛,名曰師子,彼有五百億菩薩,皆當往生。其第八佛,名曰離垢光,彼有八十億菩薩,皆當往生。其第九佛,名曰德首,彼有六十億菩薩,皆當往生。其第十佛,名曰妙德山,彼有六十億菩薩,皆當往生。其第十一佛,名曰人王,彼有十億菩薩,皆當往生。其第十二佛,名曰無上華,彼有無數不可稱計諸菩薩眾,皆不退轉,智慧勇猛,已曾供養無量諸佛。於七日中,即能攝取百千億劫大士所修堅固之法。斯等菩薩,皆當往生。其第十三佛,名曰無畏,彼有七百九十億大菩薩眾,諸小菩薩,及比丘等,不可稱計,皆當往生。佛語彌勒:不但此十四佛國中諸菩薩等,當往生也,十方世界無量佛國,其往生者,亦復如是,甚多無數。我但說十方諸佛名號,及菩薩比丘生 彼國者,晝夜一劫,尚未能盡。我今為汝略說之耳。
Di Lặc Bồ Tát bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ư thử thế giới, hữu kỷ sở Bất Thoái Bồ Tát sanh bỉ Phật quốc? Phật cáo Di Lặc: - Ư thử thế giới, hữu lục thập thất ức Bất Thoái Bồ Tát, vãng sanh bỉ quốc. Nhất nhất Bồ Tát, dĩ tằng cúng dường vô số chư Phật, thứ như Di Lặc giả dã. Chư tiểu hạnh Bồ Tát, cập tu tập thiểu công đức giả, bất khả xưng kế, giai đương vãng sanh. Phật cáo Di Lặc: - Bất đản ngã sát chư Bồ Tát đẳng, vãng sanh bỉ quốc. Tha phương Phật độ, diệc phục như thị. Kỳ đệ nhất Phật, danh viết Viễn Chiếu, bỉ hữu bách bát thập ức Bồ Tát, giai đương vãng sanh. Kỳ đệ nhị Phật, danh viết Bảo Tạng, bỉ hữu cửu thập ức Bồ Tát, giai đương vãng sanh. Kỳ đệ tam Phật, danh viết Vô Lượng Âm, bỉ hữu nhị bách nhị thập ức Bồ Tát giai đương vãng sanh. Kỳ đệ tứ Phật, danh viết Cam Lộ Vị, bỉ hữu nhị bách ngũ thập ức Bồ Tát giai đương vãng sanh. Kỳ đệ ngũ Phật, danh viết Long Thắng, bỉ hữu thập tứ ức Bồ Tát, giai đương vãng sanh. Kỳ đệ lục Phật, danh viết Thắng Lực, bỉ hữu vạn tứ thiên Bồ Tát, giai đương vãng sanh. Kỳ đệ thất Phật, danh viết Sư Tử, bỉ hữu ngũ bách ức Bồ Tát giai đương vãng sanh. Kỳ đệ bát Phật, danh viết Ly Cấu Quang, bỉ hữu bát thập ức Bồ Tát, giai đương vãng sanh. Kỳ đệ cửu Phật, danh viết Đức Thủ, bỉ hữu lục thập ức Bồ Tát, giai đương vãng sanh. Kỳ đệ thập Phật, danh viết Diệu Đức Sơn, bỉ hữu lục thập ức Bồ Tát, giai đương vãng sanh. Kỳ đệ thập nhất Phật, danh viết Nhân Vương, bỉ hữu thập ức Bồ Tát, giai đương vãng sanh. Kỳ đệ thập nhị Phật, danh viết Vô Thượng Hoa, bỉ hữu vô số bất khả xưng kế chư Bồ Tát chúng, giai bất thoái chuyển, trí huệ dũng mãnh, dĩ tằng cúng dường vô lượng chư Phật, ư thất nhật trung, tức năng nhiếp thủ bách thiên ức kiếp đại sĩ sở tu kiên cố chi pháp. Tư đẳng Bồ Tát, giai đương vãng sanh. Kỳ đệ thập tam Phật, danh viết Vô Úy, bỉ hữu thất bách cửu thập ức đại Bồ Tát chúng, chư tiểu Bồ Tát, cập tỳ-kheo đẳng, bất khả xưng kế, giai đương vãng sanh. Phật ngữ Di Lặc: - Bất đản thử thập tứ Phật quốc trung chư Bồ Tát đẳng, đương vãng sanh dã, thập phương thế giới vô lượng Phật quốc, kỳ vãng sanh giả, diệc phục như thị, thậm đa vô số. Ngã đản thuyết thập phương chư Phật danh hiệu, cập Bồ Tát tỳ-kheo sanh bỉ quốc giả, trú dạ nhất kiếp, thượng vị năng tận. Ngã kim vị nhữ lược thuyết chi nhĩ.
Di Lặc Bồ Tát bạch đức Phật rằng: - Bạch đức Thế Tôn! Trong thế giới này, có bao nhiêu vị Bất Thoái Bồ Tát sanh về cõi Phật ấy? Đức Phật bảo ngài Di Lặc: - Trong thế giới này có sáu mươi bảy ức Bất Thoái Bồ Tát vãng sanh cõi ấy. Mỗi vị Bồ Tát đã từng cúng dường vô số chư Phật, chỉ kém Di Lặc. Các vị tiểu hạnh Bồ Tát và những người tu tập công đức ít ỏi, chẳng thể nói kể, sẽ đều vãng sanh. Đức Phật bảo ngài Di Lặc: - Không chỉ riêng các vị Bồ Tát trong cõi ta vãng sanh cõi ấy, mà các cõi Phật ở phương khác cũng giống như thế. Vị Phật thứ nhất tên là Viễn Chiếu, Ngài có một trăm tám mươi ức Bồ Tát, sẽ đều vãng sanh. Vị Phật thứ hai tên là Bảo Tạng, Ngài có chín mươi ức Bồ Tát, sẽ đều vãng sanh. Vị Phật thứ ba tên là Vô Lượng Âm, Ngài có hai trăm hai mươi ức Bồ Tát, sẽ đều vãng sanh. Vị Phật thứ tư tên là Cam Lộ Vị, Ngài có hai trăm năm mươi ức Bồ Tát, sẽ đều vãng sanh. Vị Phật thứ năm tên là Long Thắng, Ngài có mười bốn ức Bồ Tát, sẽ đều vãng sanh. Vị Phật thứ sáu tên là Thắng Lực, Ngài có một vạn bốn ngàn vị Bồ Tát, sẽ đều vãng sanh. Vị Phật thứ bảy tên là Sư Tử, Ngài có năm trăm ức vị Bồ Tát, sẽ đều vãng sanh. Vị Phật thứ tám tên là Ly Cấu Quang, Ngài có tám mươi ức Bồ Tát, sẽ đều vãng sanh. Vị Phật thứ chín tên là Đức Thủ, Ngài có sáu mươi ức Bồ Tát, sẽ đều vãng sanh. Vị Phật thứ mười tên là Diệu Đức Sơn, Ngài có sáu mươi ức Bồ Tát, sẽ đều vãng sanh. Vị Phật thứ mười một tên là Nhân Vương, Ngài có mười ức Bồ Tát, sẽ đều vãng sanh. Vị Phật thứ mười hai tên là Vô Thượng Hoa, Ngài có vô số chẳng thể tính kể các vị Bồ Tát đều là Bất Thoái Chuyển, trí huệ dũng mãnh, đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, trong vòng bảy ngày liền có thể nhiếp thủ các pháp kiên cố do bậc đại sĩ tu tập trong trăm ngàn ức kiếp. Các vị Bồ Tát ấy, sẽ đều vãng sanh. Vị Phật thứ mười ba tên là Vô Úy, Ngài có bảy trăm chín mươi ức đại Bồ Tát chúng, các vị tiểu Bồ Tát, và hàng tỳ-kheo v.v… chẳng thể tính kể, sẽ đều vãng sanh. Đức Phật bảo ngài Di Lặc: - Không chỉ là các vị Bồ Tát trong mười bốn cõi Phật ấy, sẽ đều vãng sanh, mà mười phương thế giới vô lượng cõi Phật, những người vãng sanh cũng giống như thế, rất nhiều vô số. Ta chỉ nói danh hiệu của mười phương chư Phật và các vị Bồ Tát, tỳ-kheo sanh về cõi ấy thì trọn một kiếp suốt cả ngày đêm vẫn chẳng thể nói trọn. Ta nay nói đại lược cho ông đó thôi!

佛告彌勒:其有得聞彼佛名號,歡喜踊躍,乃至一念,當知此人為得大利,則是具足無上功德。是故彌勒!設有大火,充滿三千大千世界,要當過此,聞是經法,歡喜信樂,受持讀誦,如說修行。所以者何?多有菩薩,欲聞此經,而不能得。若有眾生,聞此經者,於無上道,終不退轉。是故應當專心信受,持誦說行。
Phật cáo Di Lặc: - Kỳ hữu đắc văn bỉ Phật danh hiệu, hoan hỷ, dũng dược, nãi chí nhất niệm, đương tri thử nhân vi đắc đại lợi, tắc thị cụ túc vô thượng công đức. Thị cố Di Lặc! Thiết hữu đại hỏa, sung mãn tam thiên đại thiên thế giới, yếu đương quá thử, văn thị kinh pháp, hoan hỷ, tín nhạo, thọ trì, độc tụng, như thuyết tu hành. Sở dĩ giả hà? Đa hữu Bồ Tát, dục văn thử kinh, nhi bất năng đắc. Nhược hữu chúng sanh, văn thử kinh giả, ư vô thượng đạo, chung bất thoái chuyển. Thị cố ưng đương chuyên tâm tín thọ, trì tụng, thuyết, hành.
Đức Phật bảo ngài Di Lặc: - Có người nào được nghe danh hiệu của đức Phật ấy mà hoan hỷ, hớn hở, dẫu chỉ một niệm, hãy nên biết người ấy đạt được lợi ích to lớn, tức là đầy đủ công đức vô thượng. Vì thế, này Di Lặc! Giả sử có lửa lớn đầy ắp tam thiên đại thiên thế giới, phải nên vượt qua để nghe kinh pháp này, hoan hỷ, tin ưa, thọ trì, đọc, tụng, tu hành đúng như lời dạy. Vì cớ sao vậy? Có nhiều vị Bồ Tát muốn nghe kinh này mà chẳng thể được. Nếu có chúng sanh nghe kinh này, đối với vô thượng đạo trọn chẳng thoái chuyển. Vì thế, hãy nên chuyên tâm tin nhận, trì tụng, giảng nói, tu hành.

吾今為諸眾生,說此經法,令見無量壽佛,及其國土一切所有。所當為者,皆可求之,無得以我滅度之後,復生疑惑。
Ngô kim vị chư chúng sanh thuyết thử kinh pháp, linh kiến Vô Lượng Thọ Phật, cập kỳ quốc độ nhất thiết sở hữu. Sở đương vi giả, giai khả cầu chi, vô đắc dĩ ngã diệt độ chi hậu, phục sanh nghi hoặc.
Nay ta vì các chúng sanh nói kinh pháp này, khiến cho họ thấy Vô Lượng Thọ Phật và hết thảy tất cả mọi thứ trong cõi nước ấy. Những gì đáng nên làm đều có thể cầu được, chớ nên để sau khi ta đã diệt độ, lại sanh nghi hoặc.

當來之世,經道滅盡,我以慈悲哀愍,特留此經,止住百歲。其有眾生,值斯經者,隨意所願,皆可得度。
Đương lai chi thế, kinh đạo diệt tận, ngã dĩ từ bi, ai mẫn, đặc lưu thử kinh chỉ trụ bách tuế. Kỳ hữu chúng sanh, trị tư kinh giả, tùy ý sở nguyện, giai khả đắc độ.
Trong đời tương lai, kinh đạo diệt hết, ta do lòng từ bi, thương xót, đặc biệt lưu lại kinh này tồn tại một trăm năm. Nếu có chúng sanh gặp kinh này, sẽ tùy theo ý nguyện đều có thể đắc độ.

佛語彌勒:如來興世,難值難見。諸佛經道,難得難聞。菩薩勝法,諸波羅蜜,得聞亦難。遇善知識,聞法能行,此亦為難。若聞斯經,信樂受持,難中之難,無過此難。
Phật ngữ Di Lặc: - Như Lai hưng thế, nan trị, nan kiến. Chư Phật kinh đạo, nan đắc, nan văn, Bồ Tát thắng pháp, chư Ba La Mật, đắc văn diệc nan. Ngộ thiện tri thức, văn pháp năng hành, thử diệc vi nan. Nhược văn tư kinh, tín nhạo thọ trì, nan trung chi nan, vô quá thử nan.
Đức Phật bảo ngài Di Lặc: - Như Lai xuất hiện trong cõi đời, khó gặp, khó thấy. Kinh đạo của chư Phật khó được, khó nghe. Pháp thù thắng của Bồ Tát, các Ba La Mật cũng khó được nghe. Gặp thiện tri thức, nghe pháp mà có thể hành, điều này cũng khó. Nếu nghe kinh này, tin ưa, thọ trì, [sẽ là điều] khó khăn nhất trong các sự khó, không gì khó khăn hơn chuyện này.

是故我法,如是作,如是說,如是教。應當信順,如法修行。
Thị cố ngã pháp, như thị tác, như thị thuyết, như thị giáo. Ưng đương tín thuận, như pháp tu hành.
Vì thế, pháp của ta, hành như thế, nói như thế, dạy như thế. Hãy nên tín thuận, tu hành đúng pháp.

爾時世尊,說此經法,無量眾生,皆發無上正覺之心。萬二千那由他人,得清淨法眼。二十二億諸天人民,得阿那含果。八十萬比丘,漏盡意解。四十億菩薩,得不退轉。以弘誓功德而自莊嚴。於將來世,當成正覺。
Nhĩ thời, Thế Tôn, thuyết thử kinh pháp, vô lượng chúng sanh, giai phát vô thượng chánh giác chi tâm. Vạn nhị thiên na-do-tha nhân đắc thanh tịnh pháp nhãn. Nhị thập nhị ức chư thiên nhân dân, đắc A Na Hàm quả. Bát thập vạn tỳ-kheo lậu tận ý giải. Tứ thập ức Bồ Tát, đắc Bất Thoái Chuyển, dĩ hoằng thệ công đức nhi tự trang nghiêm, ư tương lai thế, đương thành Chánh Giác.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói kinh pháp này, vô lượng chúng sanh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Giác. Một vạn hai ngàn na-do-tha người đắc pháp nhãn thanh tịnh. Hai mươi hai ức chư thiên nhân dân đắc quả A Na Hàm. Tám mươi vạn tỳ-kheo lậu tận ý giải. Bốn mươi ức Bồ Tát đắc Bất Thoái Chuyển, dùng công đức hoằng thệ để tự trang nghiêm, trong đời tương lai, sẽ thành Chánh Giác.

時三千大千世界六種震動,大光普照十方國土。百千音樂,自然而作。無量妙華,紛紛而降。
Nhĩ thời, tam thiên đại thiên thế giới lục chủng chấn động, đại quang phổ chiếu thập phương quốc độ, bách thiên âm nhạc tự nhiên nhi tác, vô lượng diệu hoa phân phân nhi giáng.
Lúc bấy giờ, tam thiên đại thiên thế giới sáu thứ chấn động, quang minh to lớn chiếu khắp các cõi nước trong mười phương, trăm ngàn thứ âm nhạc tự nhiên tấu lên, vô lượng hoa mầu nhiệm phất phới rơi xuống.

佛說經已,彌勒菩薩,及十方來諸菩薩眾、長老阿難、諸大聲聞、一切大眾,聞佛所說,靡不歡喜。
Phật thuyết kinh dĩ, Di Lặc Bồ Tát, cập thập phương lai chư Bồ Tát chúng, trưởng lão A Nan, chư đại Thanh Văn, nhất thiết đại chúng văn Phật sở thuyết, mị bất hoan hỷ.
Đức Phật nói kinh này xong, Di Lặc Bồ Tát và các vị Bồ Tát đến từ mười phương, trưởng lão A Nan, các vị đại Thanh Văn, hết thảy đại chúng, nghe đức Phật dạy, không ai chẳng hoan hỷ.