姚秦龜茲三藏鳩摩羅什奉詔譯
Diêu Tần Cưu Tư Tam Tạng Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch
Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
Diêu Tần Cưu Tư Tam Tạng Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch
Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
- Tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc, kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp.
Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc? Kỳ quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc cố danh Cực Lạc.
Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, thất trùng lan thuẫn, thất trùng la võng, thất trùng hàng thụ, giai thị tứ bảo châu táp vi nhiễu, thị cố bỉ quốc danh viết Cực Lạc.
Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ hữu thất bảo trì, bát công đức thủy sung mãn kỳ trung, trì để thuần dĩ kim sa bố địa, tứ biên giai đạo, kim, ngân, lưu ly, pha lê, hợp thành. Thượng hữu lâu các, diệc dĩ kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não, nhi nghiêm sức chi. Trì trung liên hoa đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, hoàng sắc hoàng quang,
- Từ đây qua phương Tây quá mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đương nói pháp.
Xá Lợi Phất! Cõi đó vì sao tên là Cực Lạc? Vì chúng sanh trong cõi đó không có bị những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc.
Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy tầng bao lơn, bảy tầng mành lưới, bảy tầng hàng cây, đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc.
Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có ao bằng bảy chất báu, trong ao đầy dẫy nước đủ tám công đức, đáy ao thuần dùng cát vàng trải làm đất. Vàng, bạc, lưu ly, pha lê hiệp thành những thềm, đường ở bốn bên ao; trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não. Trong ao có hoa sen lớn như bánh xe: Hoa sắc xanh thời ánh sáng xanh, sắc vàng thời ánh sáng vàng, sắc đỏ thời ánh sáng đỏ, sắc trắng thời ánh sánh trắng, mầu nhiệm thơm tho trong sạch).
Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thường tác thiên nhạc, hoàng kim vi địa, trú dạ lục thời thiên vũ Mạn Đà La hoa, kỳ quốc chúng sanh thường dĩ thanh đán các dĩ y kích thịnh chúng diệu hoa, cúng dường tha phương thập vạn ức Phật, tức dĩ thực thời hoàn đáo bổn quốc, phạn thực kinh hành.
Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
Phục thứ Xá Lợi Phất! Bỉ quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu tạp sắc chi điểu: Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Vũ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cộng Mạng chi điểu. Thị chư chúng điểu, trú dạ lục thời xuất hòa nhã âm, kỳ âm diễn sướng, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần, như thị đẳng pháp. Kỳ độ chúng sanh văn thị âm dĩ, giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Xá Lợi Phất! Lại trong cõi nước của đức Phật đó, thường trổi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời rưới hoa trời Mạn Đà La. Chúng sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm, đều lấy đãy hoa đựng những hoa tốt đem cúng dường mười muôn ức đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về bổn quốc ăn cơm xong đi kinh hành.
Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.
Lại nữa, Xá Lợi Phất! Cõi đó thường có những giống chim màu sắc xinh đẹp lạ thường, nào chim Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Vũ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cộng Mạng; những giống chim đó ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã.
Tiếng chim đó diễn nói những pháp như Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần v.v... Chúng sanh trong cõi đó nghe tiếng chim xong thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng!)
Xá Lợi Phất! Kỳ Phật quốc độ thượng vô tam ác đạo chi danh, hà huống hữu thật. Thị chư chúng điểu, giai thị A Di Đà Phật, dục linh pháp âm tuyên lưu biến hóa sở tác.
Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ, vi phong xuy động chư bảo hàng thụ cập bảo la võng xuất vi diệu âm, thí như bách thiên chủng nhạc đồng thời câu tác, văn thị âm giả, giai tự nhiên sanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm.
Xá Lợi Phất! Kỳ Phật quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu A Di Đà
Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quang minh vô lượng, chiếu thập phương quốc vô sở chướng ngại, thị cố hiệu vi A Di Đà.
Xá Lợi Phất! Cõi của đức Phật đó tên đường dữ còn không có huống gì lại có sự thật. Những giống chim đó là do đức Phật A Di Đà muốn làm cho tiếng pháp được tuyên lưu mà biến hóa làm ra đấy thôi.
Xá Lợi Phất! Trong cõi nước của đức Phật đó, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và động mành lưới báu, làm vang ra tiếng vi diệu, thí như trăm nghìn thứ nhạc đồng một lúc hòa chung. Người nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Xá Lợi Phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.
Xá Lợi Phất! Nơi ý ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà?
Xá Lợi Phất! Đức Phật đó, hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại vì thế nên hiệu là A Di Đà).
Xá Lợi Phất! A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai ư kim thập kiếp.
Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử, giai A La Hán, phi thị toán số chi sở năng tri, chư Bồ Tát diệc phục như thị.
Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, chúng sanh sanh giả giai thị A Bệ Bạt Trí. Kỳ trung đa hữu Nhất Sanh Bổ Xứ, kỳ số thậm đa, phi thị toán số sở năng tri chi, đản khả dĩ vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp thuyết.
Xá Lợi Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật nhẫn lại đến nay, đã được mười kiếp.
Xá Lợi Phất! Lại đức Phật đó có vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử đều là bậc A La Hán, chẳng phải tính đếm mà có thể biết được, hàng Bồ Tát chúng cũng đông như thế.
Xá Lợi Phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.
Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc, những chúng sanh vãng sanh vào đó đều là bậc Bất Thoái Chuyển. Trong đó có rất nhiều vị bậc Nhất Sanh Bổ Xứ, số đó rất đông, chẳng phải tính đếm mà biết được, chỉ có thể dùng số vô lượng vô biên A-tăng-kỳ để nói thôi!)
Xá Lợi Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc.
Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu, nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn. Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng hiện tại kỳ tiền, thị nhân chung thời tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ.
Xá Lợi Phất! Ngã kiến thị lợi cố thuyết thử ngôn. Nhược hữu chúng sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ.
Xá Lợi Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cõi đó.
Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, một lòng không tạp loạn. Thời người đó đến lúc lâm chung, đức Phật A Di Đà cùng hàng thánh chúng hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.
Xá Lợi Phất! Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế. Nếu có chúng sanh nào, nghe những lời trên đó, nên phải phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc).
Đông phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, như thị đẳng Hằng hà sa số chư Phật. Các ư kỳ quốc xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới thuyết thành thật ngôn: Nhữ đẳng chúng sanh, đương tín thị ‘Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh’.
Phương Đông cũng có đức A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật… Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: Chúng sanh các người phải nên tin ‘Kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm’ này).
Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử thiện nữ nhân, văn thị kinh thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện nam tử thiện nữ nhân, giai vi nhất thiết chư Phật cộng sở hộ niệm, giai đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Thị cố Xá Lợi Phất! Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngã ngữ cập chư Phật sở thuyết.
Xá Lợi Phất! Vì nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này mà thọ trì đó, và nghe danh hiệu của đức Phật, thời những thiện nam tử cùng thiện nữ nhân ấy đều được tất cả các đức Phật hộ niệm, đều được không thoái chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Xá Lợi Phất! Cho nên các ông đều phải tin nhận lời của Ta và của các đức Phật nói).
Thị cố Xá Lợi Phất! Chư thiện nam tử thiện nữ nhân, nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ.
Xá Lợi Phất! Cho nên các thiện nam tử, thiện nữ nhân nếu người nào có lòng tin thời phải nên phát nguyện sanh về cõi nước kia).
Đức Phật nói kinh này rồi, ngài Xá Lợi Phất cùng các vị tỳ-kheo, tất cả trong đời: Trời, Người, A Tu La v.v... nghe lời của đức Phật dạy, đều vui mừng tin nhận đảnh lễ mà lui ra).
大唐三藏法師玄奘奉詔譯
Đại Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang phụng chiếu dịch
Việt dịch: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Chứng nghĩa: Thượng Tọa Thích Nguyên Trí
Đại Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang phụng chiếu dịch
Việt dịch: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Chứng nghĩa: Thượng Tọa Thích Nguyên Trí
Phục dữ vô lượng Bồ Tát Ma Ha Tát câu. Nhất thiết giai trụ Bất Thoái Chuyển vị, vô lượng công đức chúng sở trang nghiêm. Kỳ danh viết: Diệu Cát Tường Bồ Tát, Vô Năng Thắng Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát. Như thị đẳng chư đại Bồ Tát nhi vi thượng thủ.
Phục hữu Đế Thích, Đại Phạm Thiên Vương, Kham Nhẫn giới chủ, Hộ Thế tứ vương, như thị thượng thủ. Bách thiên câu-chi na-dữu-đa số chư thiên tử chúng, cập dư thế gian vô lượng thiên nhân, a-tố-lạc đẳng, vị văn pháp cố, câu lai hội tọa.
Lại có vô lượng Bồ Tát Ma Ha Tát cùng câu hội. Hết thảy các Ngài đều trụ địa vị Bất Thoái Chuyển, trang nghiêm bằng vô lượng công đức. Tên các Ngài là: Diệu Cát Tường Bồ Tát, Vô Năng Thắng Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát. Các vị đại Bồ Tát như vậy làm thượng thủ.
Lại có Ðế Thích, Ðại Phạm Thiên Vương chủ của thế giới Kham Nhẫn, Hộ Thế tứ vương... các vị thượng thủ như vậy. Các vị thiên tử số đến trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa và vô lượng thiên nhân khác trong thế giới, a-tố-lạc v.v... vì nghe pháp nên cùng đến dự hội).
- Nhữ kim tri phủ? Ư thị Tây phương khứ thử thế giới, quá bách thiên câu-chi na-dữu-đa Phật độ, hữu Phật thế giới danh viết Cực Lạc. Kỳ trung Thế Tôn danh Vô Lượng Thọ, cập Vô Lượng Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác. Thập hiệu viên mãn, kim hiện tại bỉ an ổn trụ trì, vị chư hữu tình, tuyên thuyết thậm thâm vi diệu chi pháp, linh đắc thù thắng lợi ích an lạc.
Hựu Xá Lợi Tử! Hà nhân, hà duyên, bỉ Phật thế giới danh viCực Lạc?
Xá Lợi Tử! Do bỉ giới trung chư hữu tình loại vô hữu nhất thiết thân tâm ưu khổ, duy hữu vô lượng thanh tịnh hỷ lạc. Thị cố danh vi Cực Lạc thế giới.
Hựu Xá Lợi Tử! Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, xứ xứ giai hữu thất trùng hàng liệt diệu bảo lan thuẫn, thất trùng hàng liệt bảo Đa La thụ, cập hữu thất trùng diệu bảo la võng, châu táp vi nhiễu, tứ bảo trang nghiêm. Kim bảo, ngân bảo, phệ lưu ly bảo, phả chi ca bảo, diệu sức gián ỷ.
Xá Lợi Tử! Bỉ Phật độ trung, hữu như thị đẳng chúng diệu ỷ sức công đức trang nghiêm, thậm khả ái nhạo, thị cố danh vi Cực Lạc thế giới.
- Ông nay biết chăng? Từ phương Tây của thế giới này qua khỏi trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa cõi Phật có thế giới Phật tên là Cực Lạc. Ðức Thế Tôn trong cõi ấy tên là Vô Lượng Thọ và Vô Lượng Quang Như Lai, Ứng Chánh Ðẳng Giác. Mười hiệu viên mãn nay hiện đang trụ trì an ổn nơi cõi ấy, vì các hữu tình tuyên nói pháp vi diệu thậm thâm, khiến họ được lợi ích an lạc thù thắng.
Lại này Xá Lợi Tử! Nhân gì duyên gì thế giới Phật ấy tên là Cực Lạc?
Này Xá Lợi Tử! Do các loài hữu tình trong thế giới ấy chẳng có hết thảy đau khổ lo lắng nơi thân, nơi tâm, chỉ có vô lượng hỷ lạc thanh tịnh. Vì vậy gọi là thế giới Cực Lạc.
Lại này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật thanh tịnh Cực Lạc thế giới chốn chốn đều có bảy lớp lan can bằng diệu bảo, bảy lớp hàng cây Đa La báu. Lại có bảy lớp lưới mành bằng các diệu bảo bao trọn khắp cả, trang hoàng bằng bốn báu: Kim bảo, ngân bảo, báu phệ lưu ly, báu phả chi ca xen lẫn nhau trang hoàng đẹp đẽ.
Này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật ấy có các thứ công đức trang nghiêm đẹp đẽ mầu nhiệm thế ấy, rất đáng ưa thích. Vì vậy, gọi là thế giới Cực Lạc).
Xá Lợi Tử! Bỉ Phật độ trung, hữu như thị đẳng chúng diệu ỷ sức, công đức trang nghiêm, thậm khả ái nhạo. Thị cố danh vi Cực Lạc thế giới.
Này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật ấy có các thứ công đức trang nghiêm đẹp đẽ mầu nhiệm thế ấy, thật đáng ưa thích. Vì vậy, gọi là thế giới Cực Lạc).
Hựu Xá Lợi Tử! Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, châu biến đại địa chân kim hợp thành, kỳ xúc nhu nhuyễn, hương khiết quang minh, vô lượng vô biên diệu bảo gián sức.
Xá Lợi Tử! Bỉ Phật độ trung, hữu như thị đẳng chúng diệu ỷ sức, công đức trang nghiêm, thậm khả ái nhạo. Thị cố danh vi Cực Lạc thế giới.
Này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật ấy có các công đức trang nghiêm đẹp đẽ mầu nhiệm thế ấy, thật đáng ưa thích. Vì vậy, gọi là thế giới Cực Lạc.
Lại này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật thanh tịnh Cực Lạc thế giới, khắp cả cõi đất do vàng ròng hợp thành, chạm vào mềm mại, thơm tho, sáng chói, trang hoàng bằng vô lượng vô biên diệu bảo chen lẫn.
Này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật ấy có các công đức trang nghiêm đẹp đẽ mầu nhiệm thế ấy, thật đáng ưa thích. Vì vậy, gọi là thế giới Cực Lạc).
Xá Lợi Tử! Bỉ Phật độ trung, hữu như thị đẳng chúng diệu ỷ sức, công đức trang nghiêm, thậm khả ái nhạo. Thị cố danh vi Cực Lạc thế giới.
Này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật ấy có các công đức trang nghiêm đẹp đẽ mầu nhiệm thế ấy, thật đáng ưa thích. Vì vậy, gọi là thế giới Cực Lạc).
Nhữ Xá Lợi Tử! Ư ý vân hà? Bỉ độ chúng điểu, khởi thị bàng sanh ác thú nhiếp da? Vật tác thị kiến. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật tịnh độ vô tam ác đạo, thượng bất văn hữu tam ác thú danh, hà huống hữu thật tội nghiệp sở chiêu bàng sanh chúng điểu! Đương tri giai thị Vô Lượng Thọ Phật biến hóa sở tác, linh kỳ tuyên sướng vô lượng pháp âm, tác chư hữu tình lợi ích an lạc.
Ông Xá Lợi Tử! Ý ông nghĩ sao? Các loài chim cõi kia há có thuộc vào nẻo ác bàng sanh không? Chớ nghĩ như thế. Vì cớ sao vậy? Cõi Phật thanh tịnh kia không có ba ác đạo, còn chẳng nghe có cái tên ba ác đạo nữa, huống là thật có các loài chim thuộc loài bàng sanh do tội nghiệp chiêu cảm ư! Nên biết rằng: Chúng đều là do Vô Lượng Thọ Phật biến hóa ra để tuyên dương vô lượng pháp âm khiến các hữu tình lợi ích yên vui).
Hựu Xá Lợi Tử! Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, thường hữu diệu phong, xuy chư bảo thụ, cập bảo la võng, xuất vi diệu âm, thí như bách thiên câu-chi thiên nhạc đồng thời câu tác, xuất vi diệu thanh, thậm khả ái ngoạn. Như thị bỉ độ thường hữu diệu phong, xuy chúng bảo thụ, cập bảo la võng, kích xuất chủng chủng vi diệu âm thanh, thuyết chủng chủng pháp. Bỉ độ chúng sanh văn thị thanh dĩ, khởi Phật, Pháp, Tăng niệm tác ý đẳng vô lượng công đức.
Xá Lợi Tử! Bỉ Phật độ trung, hữu như thị đẳng chúng diệu ỷ sức, công đức trang nghiêm, thậm khả ái nhạo. Thị cố danh vi Cực Lạc thế giới.
Hựu Xá Lợi Tử! Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, hữu như thị đẳng vô lượng vô biên bất khả tư nghị thậm hy hữu sự, giả sử kinh ư bách thiên câu-chi na-dữu-đa kiếp, dĩ kỳ vô lượng bách thiên câu chi na-dữu-đa thiệt, nhất nhất thiệt thượng xuất vô lượng thanh, tán kỳ công đức diệc bất năng tận. Thị cố danh vi Cực Lạc thế giới.
Hựu Xá Lợi Tử! Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, Phật hữu hà duyên danh Vô Lượng Thọ?
Lại này Xá Lợi Tử! Cõi Phật thanh tịnh là thế giới Cực Lạc thường có gió mát thổi qua các cây báu và lưới mành báu phát ra tiếng vi diệu, ví như trăm ngàn câu-chi nhạc trời cùng lúc tấu lên vang ra tiếng vi diệu thật đáng ưa thích. Cõi ấy thường có gió lành như thế thổi các cây báu và lưới mành báu, khua động các thứ âm thanh kỳ diệu, nói các thứ pháp. Chúng sanh cõi ấy nghe tiếng ấy xong, khởi ý niệm Phật, Pháp, Tăng vô lượng công đức.
Này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật ấy có các công đức trang nghiêm đẹp đẽ mầu nhiệm thế ấy, thật đáng ưa thích. Vì vậy, gọi là thế giới Cực Lạc.
Lại này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật thanh tịnh là thế giới Cực Lạc có vô lượng vô biên việc rất hy hữu chẳng thể nghĩ bàn đến như thế ấy, ví dù suốt cả trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa kiếp, dùng vô lượng trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa lưỡi, trên mỗi một lưỡi thốt lên vô lượng tiếng khen ngợi công đức ấy cũng chẳng hết nổi. Vì vậy, gọi là thế giới Cực Lạc.
Lại này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật thanh tịnh là thế giới Cực Lạc, do nhân duyên gì Phật hiệu Vô Lượng Thọ?)
Xá Lợi Tử! Vô Lượng Thọ Phật chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề dĩ lai, kinh thập đại kiếp.
Xá Lợi Tử! Hà duyên bỉ Phật danh Vô Lượng Quang?
Xá Lợi Tử! Do bỉ Như Lai hằng phóng vô lượng vô biên diệu quang, biến chiếu nhất thiết thập phương Phật độ, thi tác Phật sự, vô hữu chướng ngại. Do thị duyên cố, bỉ độ Như Lai danh Vô Lượng Quang.
Xá Lợi Tử! Bỉ Phật tịnh độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm, thậm khả ái nhạo. Thị cố danh vi Cực Lạc thế giới.
Hựu Xá Lợi Tử! Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, Vô Lượng Thọ Phật thường hữu vô lượng Thanh Văn đệ tử, nhất thiết giai thị đại A La Hán, cụ túc chủng chủng vi diệu công đức. Kỳ lượng vô biên bất khả xưng số.
Xá Lợi Tử! Bỉ Phật tịnh độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm, thậm khả ái nhạo. Thị cố danh vi Cực Lạc thế giới.
Hựu Xá Lợi Tử! Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ trung, Vô Lượng Thọ Phật thường hữu vô lượng Bồ Tát đệ tử, nhất thiết giai thị Nhất Sanh Sở Hệ, cụ túc chủng chủng vi diệu công đức. Kỳ lượng vô biên, bất khả xưng số. Giả sử kinh ư vô số lượng kiếp, tán kỳ công đức, chung bất năng tận.
Này Xá Lợi Tử! Vô Lượng Thọ Phật chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, đến nay đã mười đại kiếp.
Này Xá Lợi Tử! Do duyên cớ gì đức Phật ấy hiệu là Vô Lượng Quang
Này Xá Lợi Tử! Do đức Như Lai ấy luôn phóng vô lượng vô biên diệu quang chiếu khắp hết thảy cõi Phật mười phương thực hiện Phật sự nào có chướng ngại. Do duyên cớ ấy, đức Như Lai ấy hiệu là Vô Lượng Quang.
Này Xá Lợi Tử! Tịnh độ Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế, rất đáng ưa thích. Vì vậy gọi là thế giới Cực Lạc.
Lại này Xá Lợi Phất! Trong cõi Phật thanh tịnh Cực Lạc thế giới, Vô Lượng Thọ Phật thường có vô lượng Thanh Văn đệ tử, hết thảy đều là đại A La Hán đầy đủ các thứ công đức vi diệu. Số ấy vô biên chẳng thể tính kể.
Này Xá Lợi Tử! Tịnh độ Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế, rất đáng ưa thích. Vì vậy gọi là thế giới Cực Lạc.
Lại này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật thanh tịnh Cực Lạc thế giới, Vô Lượng Thọ Phật thường có vô lượng Bồ Tát đệ tử, hết thảy đều là Nhất Sanh Sở Hệ, đầy đủ các thứ công đức vi diệu. Số ấy vô biên chẳng thể tính kể. Giả sử trong suốt vô số lượng kiếp, khen ngợi công đức của họ, trọn chẳng hết nổi).
Hựu Xá Lợi Tử! Nhược chư hữu tình sanh bỉ độ giả, giai bất thoái chuyển, tất bất phục đọa chư hiểm ác thú, biên địa, hạ tiện, miệt lệ xa trung, thường du chư Phật thanh tịnh quốc độ, thù thắng hạnh nguyện, niệm niệm tăng tấn, quyết định đương chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Xá Lợi Tử! Bỉ Phật độ trung, thành tựu như thị công đức trang nghiêm, thậm khả ái nhạo. Thị cố danh vi Cực Lạc thế giới.
Hựu Xá Lợi Tử! Nhược chư hữu tình văn bỉ Tây phương Vô Lượng Thọ Phật thanh tịnh Phật độ vô lượng công đức chúng sở trang nghiêm, giai ưng phát nguyện sanh bỉ Phật độ. Sở dĩ giả hà? Nhược sanh bỉ độ, đắc dữ như thị vô lượng công đức chúng sở trang nghiêm, chư đại sĩ đẳng đồng nhất tập hội, thọ dụng như thị vô lượng công đức, chúng sở trang nghiêm thanh tịnh Phật độ, Đại Thừa pháp lạc thường vô thoái chuyển, vô lượng hạnh nguyện niệm niệm tăng tấn, tốc chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề cố.
Xá Lợi Tử! Sanh bỉ Phật độ chư hữu tình loại, thành tựu vô lượng vô biên công đức, phi thiểu thiện căn chư hữu tình loại đương đắc vãng sanh Vô Lượng Thọ Phật Cực Lạc thế giới thanh tịnh Phật độ.
Lại này Xá Lợi Tử! Nếu các hữu tình sanh về cõi ấy đều chẳng thoái chuyển, quyết chẳng lại đọa vào các đường hiểm nạn: Biên địa, hạ tiện, miệt lệ xa; thường đi qua các cõi nước Phật thanh tịnh, hạnh nguyện thù thắng niệm niệm tăng tấn, quyết định sẽ chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Này Xá Lợi Tử! Trong cõi Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế, rất đáng ưa thích. Vì vậy gọi là thế giới Cực Lạc.
Lại này Xá Lợi Tử! Nếu các hữu tình được nghe cõi Phật thanh tịnh vô lượng công đức trang nghiêm của Phật Vô Lượng Thọ ở phương Tây đều nên phát nguyện sanh cõi Phật ấy. Vì cớ sao thế? Nếu sanh cõi kia sẽ được trang nghiêm bằng vô lượng công đức như vậy, cùng ở chung với các bậc đại sĩ, thọ dụng cõi Phật thanh tịnh được trang nghiêm bằng vô lượng các thứ công đức như thế, pháp lạc Đại Thừa luôn chẳng thoái chuyển, vô lượng hạnh nguyện niệm niệm tăng tấn, chóng chứng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác vậy.
Này Xá Lợi Tử! Các loài hữu tình thành tựu vô lượng vô biên công đức mới sanh cõi Phật ấy, chẳng phải các loài hữu tình có chút thiện căn sẽ được vãng sanh thế giới Cực Lạc, cõi Phật thanh tịnh của Phật Vô Lượng Thọ).
Hựu Xá Lợi Tử! Ngã quán như thị lợi ích an lạc đại sự nhân duyên, thuyết thành đế ngữ. Nhược hữu tịnh tín chư thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhân, đắc văn như thị Vô Lượng Thọ Phật bất khả tư nghị công đức danh hiệu Cực Lạc thế giới tịnh Phật độ giả, nhất thiết giai ưng tín thọ, phát nguyện, như thuyết tu hành, sanh bỉ Phật độ.
Lại này Xá Lợi Tử! Ta thấy đại sự nhân duyên lợi ích an lạc như vậy nên nói lời thành thật, chắc chắn. Nếu có các thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhân lòng tin trong sạch được nghe danh hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật Vô Lượng Thọ và cõi Phật thanh tịnh Cực Lạc thế giới thì hết thảy đều nên tin nhận, phát nguyện, tu hành đúng như lời dạy sanh cõi Phật ấy).
Hựu Xá Lợi Tử! Như thị Nam phương, diệc hữu hiện tại Nhật Nguyệt Quang Như Lai, Danh Xưng Quang Như Lai, Đại Quang Uẩn Như Lai, Mê Lô Quang Như Lai, Vô Biên Tinh Tấn Như Lai. Như thị đẳng Phật như Căng Già sa, trụ tại Nam phương, tự Phật tịnh độ, các các thị hiện quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, châu táp vi nhiễu, thuyết thành đế ngôn: ‘Nhữ đẳng hữu tình, giai ưng tín thọ như thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Phật Độ Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Nhiếp Thọ pháp môn’.
Lại này Xá Lợi Tử! Cũng như vậy, hiện tại ở phương Nam cũng có Nhật Nguyệt Quang Như Lai, Danh Xưng Quang Như Lai, Ðại Quang Uẩn Như Lai, Mê Lô Quang Như Lai, Vô Biên Tinh Tấn Như Lai. Các vị Phật như vậy như số cát sông Căng Già trụ ở phương Nam trong Phật tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới bao trọn tất cả, nói lời thành thật rằng: ‘Hữu tình các ông đều nên tin nhận pháp môn Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Phật Ðộ Công Ðức Được Hết Thảy Chư Phật Nhiếp Thọ như vậy’).
Hựu Xá Lợi Tử! Như thị Bắc phương, diệc hữu hiện tại Vô Lượng Quang Nghiêm Thông Đạt Giác Huệ Như Lai, Vô Lượng Thiên Cổ Chấn Đại Diệu Âm Như Lai, Đại Uẩn Như Lai, Quang Võng Như Lai, Sa La Đế Vương Như Lai. Như thị đẳng Phật như Căng Già sa, trụ tại Bắc phương, tự Phật tịnh độ, các các thị hiện quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, châu táp vi nhiễu, thuyết thành đế ngôn: ‘Nhữ đẳng hữu tình, giai ưng tín thọ như thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Phật Độ Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Nhiếp Thọ pháp môn’.
Lại này Xá Lợi Tử! Cũng như vậy hiện tại ở phương Bắc cũng có Vô Lượng Quang Nghiêm Thông Ðạt Giác Huệ Như Lai, Vô Lượng Thiên Cổ Chấn Ðại Diệu Âm Như Lai, Ðại Uẩn Như Lai, Quang Võng Như Lai, Sa La Ðế Vương Như Lai. Các vị Phật như thế như số cát sông Căng Già trụ ở phương Bắc, trong Phật tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới bao trọn tất cả, nói lời thành thật rằng: ‘Hữu tình các ông đều nên tin nhận pháp môn Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Phật Ðộ Công Ðức Được Hết Thảy Chư Phật Nhiếp Thọ như vậy’).
Hựu Xá Lợi Tử! Như thị thượng phương, diệc hữu hiện tại Phạm Âm Như Lai, Tú Vương Như Lai, Hương Quang Như Lai, Như Hồng Liên Hoa Thắng Đức Như Lai, Thị Hiện Nhất Thiết Nghĩa Lợi Như Lai. Như thị đẳng Phật như Căng Già sa, trụ tại thượng phương, tự Phật tịnh độ, các các thị hiện quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, châu táp vi nhiễu, thuyết thành đế ngôn: ‘Nhữ đẳng hữu tình, giai ưng tín thọ như thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Phật Độ Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Nhiếp Thọ pháp môn’.
Lại này Xá Lợi Tử! Cũng như vậy, hiện tại ở phương trên cũng có Phạm Âm Như Lai, Túc Vương Như Lai, Hương Quang Như Lai, Như Hồng Liên Hoa Thắng Ðức Như Lai, Thị Hiện Nhất Thiết Nghĩa Lợi Như Lai. Các vị Phật như vậy như số cát sông Căng Già, trụ ở phương trên trong Phật tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới bao trọn tất cả, nói lời thành thật rằng: ‘Hữu tình các ông đều nên tin nhận pháp môn Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Phật Ðộ Công Ðức Được Hết Thảy Chư Phật Nhiếp Thọ như vậy’).
Hựu Xá Lợi Tử! Như thị Tây Nam phương, diệc hữu hiện tại Tối Thượng Nhật Quang Danh Xưng Công Đức Như Lai. Như thị đẳng Phật như Căng Già sa, trụ Tây Nam phương, tự Phật tịnh độ, các các thị hiện quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, châu táp vi nhiễu, thuyết thành đế ngôn: ‘Nhữ đẳng hữu tình, giai ưng tín thọ như thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Phật Độ Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Nhiếp Thọ pháp môn’.
Lại này Xá Lợi Tử! Cũng như vậy, hiện tại ở phương Tây Nam cũng có Tối Thượng Nhật Quang Danh Xưng Công Ðức Như Lai. Các vị Phật như vậy như cát sông Căng Già, trụ ở phương Tây Nam trong Phật tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới bao trọn tất cả, nói lời thành thật rằng: ‘Hữu tình các ông đều nên tin nhận pháp môn Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Phật Ðộ Công Ðức Được Hết Thảy Chư Phật Nhiếp Thọ như vậy’).
Hựu Xá Lợi Tử! Như thị Đông Bắc phương, diệc hữu hiện tại Vô Số Bách Thiên Câu Chi Quảng Huệ Như Lai. Như thị đẳng Phật như Căng Già sa, trụ Đông Bắc phương, tự Phật tịnh độ, các các thị hiện quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, châu táp vi nhiễu, thuyết thành đế ngôn: ‘Nhữ đẳng hữu tình, giai ưng tín thọ như thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Phật Độ Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Nhiếp Thọ pháp môn’.
Lại này Xá Lợi Tử! Cũng như vậy, hiện tại ở phương Ðông Bắc cũng có Vô Số Bách Thiên Câu Chi Quảng Huệ Như Lai. Các vị Phật như vậy như cát sông Căng Già trụ ở phương Ðông Bắc trong Phật tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới bao trọn tất cả, nói lời thành thật rằng: ‘Hữu tình các ông đều nên tin nhận pháp môn Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Phật Ðộ Công Ðức Được Hết Thảy Chư Phật Nhiếp Thọ như vậy’).
Xá Lợi Tử! Do thử kinh trung, xưng dương, tán thán Vô Lượng Thọ Phật Cực Lạc thế giới bất khả tư nghị Phật độ công đức, cập thập phương diện chư Phật Thế Tôn, vị dục phương tiện lợi ích an lạc chư hữu tình cố, các trụ bổn độ, hiện đại thần biến, thuyết thành đế ngôn, khuyến chư hữu tình tín thọ thử pháp. Thị cố thử kinh, danh vi ‘Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Phật Độ Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Nhiếp Thọ pháp môn’.
Hựu Xá Lợi Tử! Nhược thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhân, hoặc dĩ đắc văn, hoặc đương đắc văn, hoặc kim đắc văn, văn thị kinh dĩ, thâm sanh tín giải. Sanh tín giải dĩ, tất vi như thị trụ thập phương diện, thập Căng Già sa chư Phật Thế Tôn chi sở nhiếp thọ. Như thuyết hành giả, nhất thiết định ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, đắc bất thoái chuyển. Nhất thiết định sanh Vô Lượng Thọ Phật Cực Lạc thế giới thanh tịnh Phật độ.
Xá Lợi Tử! Do trong kinh này xưng dương, khen ngợi thế giới Cực Lạc của Phật Vô Lượng Thọ là cõi Phật có công đức chẳng thể nghĩ bàn và chư Phật Thế Tôn ở mười phương muốn tạo phương tiện để làm lợi ích an lạc các hữu tình nên mỗi vị trụ trong cõi mình, hiện đại thần biến, nói lời thành thật khuyên các hữu tình tin nhận pháp này. Do đó, kinh này tên là ‘pháp môn Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Phật Ðộ Công Ðức Được Hết Thảy Chư Phật Nhiếp Thọ’.
Lại này Xá Lợi Tử! Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nếu đã được nghe, hoặc sẽ được nghe, hoặc nay được nghe, nghe kinh này xong, sanh lòng tin hiểu sâu xa. Sanh lòng tin hiểu xong quyết được mười Căng Già sa chư Phật Thế Tôn đang trụ trong mười phương như vậy nhiếp thọ, đúng như lời dạy tu hành thì hết thảy nhất định được bất thoái chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nhất định sanh sang cõi Phật thanh tịnh là thế giới Cực Lạc của Phật Vô Lượng Thọ).
Hựu Xá Lợi Tử! Nhược thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhân, ư Vô Lượng Thọ Cực Lạc thế giới thanh tịnh Phật độ, công đức trang nghiêm. Nhược dĩ phát nguyện, nhược đương phát nguyện, nhược kim phát nguyện, tất vị như thị trụ thập phương diện, thập Căng Già sa chư Phật Thế Tôn chi sở nhiếp thọ. Như thuyết hành giả, nhất thiết định ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, đắc bất thoái chuyển, nhất thiết định sanh Vô Lượng Thọ Phật Cực Lạc thế giới thanh tịnh Phật độ.
Thị cố Xá Lợi Tử! Nhược hữu tịnh tín chư thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhân, nhất thiết giai ưng ư Vô Lượng Thọ Cực Lạc thế giới thanh tịnh Phật độ, thâm tâm tín giải, phát nguyện vãng sanh, vật hành phóng dật.
Lại này Xá Lợi Tử! Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân đối với thế giới Cực Lạc là cõi Phật thanh tịnh công đức trang nghiêm của Phật Vô Lượng Thọ nếu đã phát nguyện, hoặc sẽ phát nguyện, hoặc nay phát nguyện, quyết định sẽ được mười Căng Già sa chư Phật Thế Tôn trụ trong mười phương như trên nhiếp thọ, đúng như lời dạy tu hành thì hết thảy nhất định được chẳng thoái chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, hết thảy nhất định sanh về cõi Phật thanh tịnh của Phật Vô Lượng Thọ là thế giới Cực Lạc.
Thế nên, Xá Lợi Tử! Nếu có các thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân lòng tin trong sạch, hết thảy đều nên đối với cõi Phật thanh tịnh của Phật Vô Lượng Thọ là thế giới Cực Lạc sanh lòng tin hiểu sâu xa, phát nguyện vãng sanh, chớ nên phóng dật).
Thị cố Xá Lợi Tử! Đương tri ngã kim ư thử tạp nhiễm Kham Nhẫn thế giới, ngũ trược ác thời, chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, vị dục phương tiện lợi ích an lạc chư hữu tình cố, thuyết thị thế gian cực nan tín pháp, thậm vi hy hữu bất khả tư nghị.
Do vậy, Xá Lợi Tử! Nên biết Ta nay trong thế giới Kham Nhẫn tạp nhiễm, đời ác ngũ trược này, chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, vì muốn tạo phương tiện làm lợi ích an lạc các hữu tình nên nói pháp mà thế gian hết sức khó tin này, thật là hy hữu chẳng thể nghĩ bàn).
曹魏天竺三藏康僧鎧奉詔譯
Tào Ngụy Thiên Trúc Tam Tạng Khang Tăng Khải phụng chiếu dịch
Việt dịch: Thích Tuệ Đăng
Tào Ngụy Thiên Trúc Tam Tạng Khang Tăng Khải phụng chiếu dịch
Việt dịch: Thích Tuệ Đăng
Hựu dữ Đại Thừa chúng Bồ Tát câu Phổ Hiền Bồ Tát, Diệu Đức Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát đẳng. Thử Hiền Kiếp trung nhất thiết Bồ Tát. Hựu Hiền Hộ đẳng thập lục Chánh Sĩ: Thiện Tư Nghị Bồ Tát, Tín Huệ Bồ Tát, Không Vô Bồ Tát, Thần Thông Hoa Bồ Tát, Quang Anh Bồ Tát, Huệ Thượng Bồ Tát, Trí Tràng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Nguyện Huệ Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bảo Anh Bồ Tát, Trung Trụ Bồ Tát, Chế Hạnh Bồ Tát, Giải Thoát Bồ Tát, giai tuân Phổ Hiền đại sĩ chi đức. Cụ chư Bồ Tát vô lượng hạnh nguyện, an trụ nhất thiết công đức chi pháp, du bộ thập phương, hành quyền phương tiện, nhập Phật pháp tạng, cứu cánh bỉ ngạn, ư vô lượng thế giới hiện thành Đẳng Giác. Xử Đâu Suất Thiên, hoằng tuyên chánh pháp, xả bỉ thiên cung, giáng thần mẫu thai, tùng hữu hiếp sanh, hiện hành thất bộ, quang minh hiển diệu, phổ chiếu thập phương vô lượng Phật độ, lục chủng chấn động.
Lại cùng với các chúng Ðại Thừa Bồ Tát trong kiếp hiện tại là: Phổ Hiền Bồ Tát, Diệu Ðức Bồ Tát, Từ Thị Bồ Tát. Lại có mười sáu vị chánh sĩ thuộc nhóm tại gia Bồ Tát là: Thiện Tư Nghị Bồ Tát, Tín Huệ Bồ Tát, Không Vô Bồ Tát, Thần Thông Hoa Bồ Tát, Quang Anh Bồ Tát, Huệ Thượng Bồ Tát, Trí Tràng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ Tát, Nguyện Huệ Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bảo Anh Bồ Tát, Trung Trụ Bồ Tát, Chế Hạnh Bồ Tát, Giải Thoát Bồ Tát, tất cả đều tuân theo giới đức của ngài Ðại Sĩ Phổ Hiền. Ðức Phật có vô lượng hạnh nguyện của các Bồ Tát, an trụ vào các pháp, công đức trọn đầy, rồi dạo bước khắp mười phương, tùy theo phương tiện cứu độ chúng sanh, khiến cho tất cả qua khỏi đường sanh tử, vào được pháp tạng của chư Phật. Lại nguyện ở trong vô lượng thế giới hiện thành Phật quả. Bấy giờ, Ngài ở cung trời Ðâu Suất, vì muốn nói rộng chánh pháp, nên từ cung trời ấy, giáng thần vào thai mẹ. Từ nách bên phải sanh ra, rồi đứng dậy hiện ra đi bảy bước; hào quang rực rỡ chiếu khắp mười phương, vô lượng cõi Phật, chấn động sáu cách).
Thích Phạm kỳ khuyến thỉnh chuyển Pháp luân. Dĩ Phật du bộ, Phật hống nhi hống, khấu pháp cổ, xuy pháp loa, chấp pháp kiếm, kiến pháp tràng, chấn pháp lôi, diệu pháp điện, chú pháp vũ, diễn pháp thí, thường dĩ pháp âm giác chư thế gian. Quang minh phổ chiếu vô lượng Phật độ, nhất thiết thế giới lục chủng chấn động. Tổng nhiếp ma giới, động ma cung điện, chúng ma nhiếp bố, mạc bất quy phục. Quặc liệt tà võng, tiêu diệt chư kiến, tán chư trần lao, hoại chư dục tiệm. Nghiêm hộ pháp thành, khai xiển pháp môn, tẩy trạc cấu ô, hiển minh thanh bạch. Quang dung Phật pháp, tuyên lưu chánh hóa, nhập quốc phân vệ, hoạch chư phong thiện, trữ công đức, thị phước điền, dục tuyên pháp, hiện hân tiếu. Do chư pháp dược cứu liệu tam khổ, hiển hiện đạo ý vô lượng công đức. Thọ Bồ Tát ký, thành Đẳng Chánh Giác.
Bấy giờ, vua Ðế Thích và Phạm Vương thỉnh cầu Ngài chuyểnPháp Luân. Ngài chấp nhận rồi rời Ðạo Tràng, du phương thuyết pháp, đánh trống pháp, thổi loa pháp, cầm gươm pháp, dựng cờ pháp, dậy sấm pháp, lóe chớp pháp, tưới mưa pháp, nói thí pháp và thường đem tiếng pháp cảnh tỉnh thế gian. Ngài phóng hào quang soi khắp vô lượng cõi Phật. Tất cả các thế giới chấn động sáu cách, thâu tóm cả cõi ma, làm rung động cung điện của ma vương, khiến chúng ma vương sợ hãi đều quy phục cả. Ngài xé rách các lưới tà, tiêu diệt mọi thành kiến, đánh tan những phiền não, lấp đầy mọi vực sâu ái dục, gạn sạch tâm ý, giữ trọn pháp thân, khai nguồn trí huệ, rửa sạch tâm nhơ xấu, làm sáng đức thanh tịnh, truyền bá chánh giáo, hóa độ chúng sanh, khiến tất cả đều được thấm nhuần công đức, phước báu lợi lạc. Ngài lại đem pháp dược mầu nhiệm cứu chữa ba nỗi khổ của chúng sanh: Một là làm việc cực nhọc sanh khổ, hai là hết vui đến buồn sanh khổ, ba là các pháp vô thường sanh khổ. Ngài lại hiển hiện vô lượng công đức, thọ ký cho các Bồ Tát thành bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác).
Hóa hiện kỳ thân do như điện quang, thiện học vô úy, hiểu liễu huyễn pháp. Hoại liệt ma võng, giải chư triền phược, siêu việt Thanh Văn, Duyên Giác chi địa. Đắc Không, Vô Tướng, Vô Nguyện tam muội, thiện lập phương tiện, hiển thị tam thừa. Ư thử trung hạ, nhi hiện diệt độ, diệc vô sở tác, diệc vô sở hữu. Bất khởi, bất diệt, đắc bình đẳng pháp, cụ túc thành tựu vô lượng tổng trì bách thiên tam-muội. Chư căn trí huệ quảng phổ tịch định, thâm nhập Bồ Tát pháp tạng. Đắc Phật Hoa Nghiêm tam-muội, tuyên dương diễn thuyết nhất thiết kinh điển. Trụ thâm định môn, tất đổ hiện tại vô lượng chư Phật. Nhất niệm chi khoảnh, vô bất châu biến, tế chư kịch nạn, chư nhàn, bất nhàn. Phân biệt hiển thị chân thật chi tế, đắc chư Như Lai biện tài chi trí. Nhập chúng ngôn âm, khai hóa nhất thiết, siêu quá thế gian chư sở hữu pháp. Tâm thường đế trụ độ thế chi đạo, ư nhất thiết vạn vật, tùy ý tự tại. Vị chúng sanh loại, tác bất thỉnh chi hữu, hà phụ quần sanh, vi chi trọng nhậm. Thọ trì Như Lai thậm thâm pháp tạng, hộ Phật chủng tánh thường sử bất tuyệt.
Lại hóa hiện thân hình lẹ như chớp nhoáng, biến hiện lưới vô úy, hiểu suốt mọi pháp huyễn hóa, xé rách lưới ma, cởi mọi ràng buộc; vượt qua địa vị Thanh Văn, Duyên Giác, được phép tam-muội: Không, Vô Tướng, Vô Nguyện. Các Ngài khéo lập phương tiện, chỉ rõ ba thừa: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Sau khi giáo hóa đã xong, không còn sở hữu, các Ngài lại hiện ra có sanh tử, chứ thật ra các pháp cũng không vật gì thấy có, chẳng sanh, chẳng diệt, tất cả đều bình đẳng, thành diệu pháp vô lượng tổng trì bách thiên tam-muội. Các căn trí huệ, yên lặng vô cùng, vào sâu tới pháp tạng của Bồ Tát, được pháp Hoa Nghiêm tam-muội của Phật, tuyên dương giảng nghĩa hết thảy kinh điển mà vẫn trụ vào phép định sâu xa mầu nhiệm, thấy tất cả chư Phật hiện tại, trong một giây phút hiện ra khắp nơi, cứu giúp muôn loài, chịu nhiều khổ não, phân biệt chỉ rõ chân thật, được trí biện tài của các đức Như Lai, rồi thể nhập tiếng nói của chúng sanh, khai hóa cho hết thảy, vượt qua các pháp sở hữu của thế gian, kiên tâm giữ đạo cứu đời. Ðối với hết thảy chúng sanh, các Ngài tùy ý tự tại, lấy việc cứu giúp chúng sanh làm trách nhiệm nặng nề, giữ gìn pháp tạng của chư Phật khiến cho thường còn chẳng mất).
Nhĩ thời, Thế Tôn chư căn duyệt dự, tư sắc thanh tịnh, quang nhan nguy nguy. Tôn giả A Nan thừa Phật thánh chỉ, tức tùng tọa khởi, thiên đản hữu kiên, trường quỵ, hợp chưởng, nhi bạch Phật ngôn:
- Kim nhật Thế Tôn, chư căn duyệt dự. Tư sắc thanh tịnh, quang nhan nguy nguy, như minh kính tịnh, ảnh sướng biểu lý. Oai dung hiển diệu, siêu tuyệt vô lượng, vị tằng chiêm đổ thù diệu như kim. Dụy nhiên Đại Thánh! Ngã tâm niệm ngôn: Kim nhật Thế Tôn trụ kỳ đặc pháp. Kim nhật Thế Hùng trụ Phật sở trụ. Kim nhật Thế Nhãn trụ Đạo Sư hạnh. Kim nhật Thế Anh trụ tối thắng đạo. Kim nhật Thiên Tôn hành Như Lai đức. Khứ, lai, hiện tại Phật Phật tương niệm, đắc vô kim Phật niệm chư Phật da? Hà cố oai thần quang quang nãi nhĩ?
Bấy giờ, đức Thế Tôn thân căn vui đẹp, dáng điệu nghiêm tịnh, sắc mặt hồng sáng. Tôn giả A Nan thấy vậy, liền từ tòa ngồi đứng dậy, trễ vai áo bên phải, quỳ gối chắp tay, bạch Phật rằng:
- Bạch đức Thế Tôn! Hôm nay đức Thế Tôn thân căn vui đẹp, thân tướng nghiêm tịnh, sắc mặt hồng sáng, như tấm gương trong sạch, sáng suốt trong ngoài, oai dũng rõ rệt, tướng tốt tuyệt vời, chưa từng thấy có. Kính bạch đức Ðại Thánh! Lòng con nghĩ rằng: Hôm nay có lẽ đức Thế Tôn trụ vào nơi pháp kỳ diệu! Hôm nay đức Thế Hùng trụ vào chốn chư Phật trụ! Hôm nay đức Thế Nhãn trụ vào hạnh của đấng Ðạo Sư! Hôm nay đức Thế Anh trụ vào đạo tối thắng! Hôm nay đức Thiên Tôn hành theo đức của đức Như Lai! Chư Phật ba đời: Quá khứ, hiện tại, vị lai đã cùng một ý nghĩ độ sanh. Phải chăng hôm nay đức Như Lai đang tư duy chư Phật tư duy chăng? Vì sao oai thần của Ngài chói sáng như vậy?)
- Vân hà A Nan? Chư thiên giáo nhữ lai vấn Phật da? Tự dĩ huệ kiến vấn oai nhan hồ?
A Nan bạch Phật:
- Vô hữu chư thiên lai giáo ngã giả, tự dĩ sở kiến vấn tư nghĩa nhĩ.
Phật ngôn:
- Thiện tai! A Nan! Sở vấn thậm khoái, phát thâm trí huệ, chân diệu biện tài, mẫn niệm chúng sanh vấn tư huệ nghĩa. Như Lai dĩ vô tận đại bi căng ai tam giới, sở dĩ xuất hưng ư thế, quang xiển đạo giáo. Phổ linh quần manh hoạch chân pháp lợi, vô lượng ức kiếp nan trị, nan kiến, do Linh Thụy hoa thời thời nãi xuất. Kim sở vấn giả, đa sở nhiêu ích, khai hóa nhất thiết chư thiên, nhân dân.
A Nan đương tri, Như Lai chánh giác kỳ trí nan lượng, đa sở đạo ngự, huệ kiến vô ngại, vô năng át tuyệt. Dĩ nhất thực chi lực năng trụ thọ mạng, ức bách thiên kiếp vô số, vô lượng. Phục quá ư thử, chư căn duyệt dự bất do hủy tổn, tư sắc bất biến quang nhan vô dị. Sở dĩ giả hà? Như Lai định huệ cứu sướng vô cực, ư nhất thiết pháp, nhi đắc tự tại.
A Nan đế thính! Kim vị nhữ thuyết.
Đối viết:
- Dụy nhiên, nguyện nhạo dục văn.
Phật cáo A Nan:
- Nãi vãng quá khứ cửu viễn vô lượng bất khả tư nghị vô ương số kiếp, Đĩnh Quang Như Lai hưng xuất ư thế, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh, giai linh đắc đạo, nãi thủ diệt độ. Thứ hữu Như Lai danh viết Quang Viễn, thứ danh Nguyệt Quang, thứ danh Chiên Đàn Hương, thứ danh Thiện Sơn Vương, thứ danh Tu Di Thiên Quán, thứ danh Tu Di Đẳng Diệu, thứ danh Nguyệt Sắc, thứ danh Chánh Niệm, thứ danh Ly Cấu, thứ danh Vô Trước, thứ danh Long Thiên, thứ danh Dạ Quang, thứ danh An Minh Đảnh, thứ danh Bất Động Địa, thứ danh Lưu Ly Diệu Hoa, thứ danh Lưu Ly Kim Sắc, thứ danh Kim Tạng, thứ danh Viêm Quang, thứ danh Viêm Căn, thứ danh Địa Chủng, thứ danh Nguyệt Tượng, thứ danh Nhật Âm, thứ danh Giải Thoát Hoa, thứ danh Trang Nghiêm Quang Minh, thứ danh Hải Giác Thần Thông, thứ danh Thủy Quang.
- A Nan! Có phải chư thiên nhờ ông đến hỏi Ta hay tự ông khởi ý hỏi việc đó?
A Nan bạch Phật rằng:
- Bạch đấng Ðại Bi Thế Tôn! Không phải chư thiên đến nhờ con, chính tự bản thân con thấy biết mà hỏi việc đó.
Phật dạy rằng:
- Hay thay! Hay thay! A Nan, những điều ông hỏi thật là sâu xa! Như Lai đem lòng đại bi vô tận, thương xót chúng sanh trong ba cõi nên mới thị hiện ra đời, khai sáng đạo giáo, để cứu vớt quần sanh khiến cho họ được nhiều lợi ích chân thật. Như Lai vô lượng ức kiếp khó gặp, khó thấy, cũng như hoa Ưu Ðàm trải qua bao kiếp mới trổ một lần. Nay những điều ông hỏi có lợi ích khai hóa cho tất cả chư thiên, nhân loại.
A Nan! Nên biết, Như Lai là bậc Chánh Giác, trí huệ không thể suy lường thường khuyên dẫn và chế ngự tâm người, không gì ngăn ngại. Như Lai dùng sức một bữa ăn mà thọ mạng được trăm ngàn vạn kiếp, vô số vô lượng còn hơn ở đây nhiều. Lại nữa, Như Lai thân căn vui đẹp, dáng điệu nghiêm tịnh, khuôn mặt hồng sáng. Vì sao vậy? Vì thiền định, trí huệ của Như Lai sáng suốt vô cùng, tất cả các pháp Như Lai đều được viên dung vô ngại.
A Nan, hãy nghe cho kỹ, bây giờ Ta nói cho ông nghe.
A Nan bạch rằng:
- Vâng, con mong muốn được nghe.
Ðức Phật bảo A Nan rằng:
- Về đời xưa kia, cách nay rất lâu xa, không thể tính bàn được là bao nhiêu kiếp, có đức Ðĩnh Quang Như Lai thị hiện ra đời, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh đều được đạo quả, rồi Ngài mới diệt độ. Thứ đến, có đức Như Lai tên là Quang Viễn, thứ đến tên là Nguyệt Quang, thứ đến tên là Chiên Ðàn Hương, thứ đến tên là Thiện Sơn Vương, thứ đến tên là Tu Di Thiên Quán, thứ đến tên là Tu Di Ðẳng Diệu, thứ đến tên là Nguyệt Sắc, thứ đến tên là Chánh Niệm, thứ đến tên là Ly Cấu, thứ đến tên là Vô Trước, thứ đến tên là Long Thiên, thứ đến tên là Dạ Quang, thứ đến tên là An Minh Ðảnh, thứ đến tên là Bất Ðộng Ðịa, thứ đến tên là Lưu Ly Diệu Hoa, thứ đến tên là Lưu Ly Kim Sắc, thứ đến tên là Kim Tạng, thứ đến tên là Viêm Quang, thứ đến tên là Viêm Căn, thứ đến tên là Ðịa Chủng, thứ đến tên là Nguyệt Tượng, thứ đến tên là Nhật Âm, thứ đến tên là Giải Thoát Hoa, thứ đến tên là Trang Nghiêm Quang Minh, thứ đến tên là Hải Giác Thần Thông, thứ đến tên là Thủy Quang).
Nhĩ thời thứ hữu Phật, danh Thế Tự Tại Vương Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự, Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
Sau đó, lại có đức Phật tên Thế Tự Tại Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
光顏巍巍 威神無極
如是炎明 無與等者
日月摩尼 珠光炎耀
皆悉隱蔽 猶如聚墨
如來容顏 超世無倫
正覺大音 響流十方
戒聞精進 三昧智慧
威德無侶 殊勝希有
深諦善念 諸佛法海
窮深盡奧 究其崖底
無明欲怒 世尊永無
人雄師子 神德無量
功德廣大 智慧深妙
光明威相 震動大千
願我作佛 齊聖法王
過度生死 靡不解脫
布施調意 戒忍精進
如是三昧 智慧為上
吾誓得佛 普行此願
一切恐懼 為作大安
假令有佛 百千億萬
無量大聖 數如恒沙
供養一切 斯等諸佛
不如求道 堅正不却
譬如恒沙 諸佛世界
復不可計 無數剎土
光明悉照 遍此諸國
如是精進 威神難量
令我作佛 國土第一
其眾奇妙 道場超絕
國如泥洹 而無等雙
我當愍哀 度脫一切
十方來生 心悅清淨
已到我國 快樂安隱
幸佛信明 是我真證
發願於彼 力精所欲
十方世尊 智慧無礙
常令此尊 知我心行
假令身止 諸苦毒中
我行精進 忍終不悔
‘Quang nhan nguy nguy, oai thần vô cực,
Như thị viêm minh, vô dữ đẳng giả.
Nhật nguyệt ma-ni, châu quang viêm diệu,
Giai tất ẩn tế, do như tụ mặc.
Như Lai dung nhan, siêu thế vô luân,
Chánh giác đại âm, hưởng lưu thập phương.
Giới văn tinh tấn, tam-muội trí huệ,
Oai đức vô lữ, thù thắng hy hữu.
Thâm đế thiện niệm, chư Phật pháp hải,
Cùng thâm tận áo, cứu kỳ nhai để.
Vô minh dục nộ, Thế Tôn vĩnh vô,
Nhân hùng sư tử, thần đức vô lượng.
Công đức quảng đại, trí huệ thâm diệu,
Quang minh oai tướng, chấn động đại thiên.
Nguyện ngã tác Phật, tề thánh pháp vương,
Quá độ sanh tử, mỵ bất giải thoát.
Bố thí điều ý, giới nhẫn tinh tấn,
Như thị tam-muội, trí huệ vi thượng.
Ngô thệ đắc Phật, phổ hành thử nguyện,
Nhất thiết khủng cụ, vi tác đại an.
Giả linh hữu Phật, bách thiên ức vạn,
Vô lượng đại thánh, số như Hằng sa.
Cúng dường nhất thiết, tư đẳng chư Phật,
Bất như cầu đạo, kiên chánh bất khước.
Thí như Hằng sa, chư Phật thế giới,
Phục bất khả kế, vô số sát độ.
Quang minh tất chiếu, biến thử chư quốc,
Như thị tinh tấn, oai thần nan lượng.
Linh ngã tác Phật, quốc độ đệ nhất,
Kỳ chúng kỳ diệu, đạo tràng siêu tuyệt.
Quốc như Nê Hoàn, nhi vô đẳng song,
Ngã đương mẫn ai, độ thoát nhất thiết.
Thập phương lai sanh, tâm duyệt thanh tịnh,
Dĩ đáo ngã quốc, khoái lạc an ổn.
Hạnh Phật tín minh, thị ngã chân chứng,
Phát nguyện ư bỉ, lực tinh sở dục.
Thập phương Thế Tôn, trí huệ vô ngại,
Thường linh thử tôn, tri ngã tâm hạnh.
Giả linh thân chỉ, chư khổ độc trung,
Ngã hành tinh tấn, nhẫn chung bất hối’.
Khuôn mặt hồng sáng chói, oai đức tỏ vô cùng,
Khỏa lấp cả không trung, mặt trời không sánh nổi.
Mặt trăng, ma-ni châu, cũng trở nên mờ tối,
Thảy đều bị ẩn khuất, khác nào như đống mực.
Dung nhan của Như Lai, vượt hơn đời khôn sánh,
Cao giọng nói chánh pháp, vang khắp cả mười phương.
Giới, văn đều tinh tiến, trí huệ cũng không lường,
Oai đức dũng mãnh nhất, trong đời ít ai bằng.
Biển pháp của chư Phật, sâu rộng mầu nhiệm thay!
Ðem trí thật suy xét, tìm thấy rõ cội nguồn.
Vô minh và dục vọng, Thế Tôn lìa tất cả,
Bậc Sư Tử Nhân Hùng, thần đức không thể lường.
Trí huệ rất cao thâm, công huân thật rộng lớn,
Oai tướng sáng hơn trăng, chấn động cõi đại thiên.
Con nguyện khi làm Phật, lên ngôi thánh Pháp Vương,
Dứt hẳn đường sanh tử, đến bên bờ giải thoát.
Sáu phép là Bố Thí, Trì Giới và Nhẫn Nhục,
Tinh Tiến đến Thiền Ðịnh, Trí Huệ là bậc nhất.
Con thề khi thành Phật, làm hết những nguyện này,
Tất cả điều sợ hãi, biến thành niềm an vui.
Giả như có chư Phật, trăm ngàn muôn ức triệu,
Cùng các bậc đại thánh, nhiều như cát sông Hằng.
Cúng dường hết tất cả, chư Phật đại thánh đó,
Cũng không bằng cầu đạo, kiên tâm không thoái chuyển.
Ví như cát sông Hằng, thế giới của chư Phật,
Lại chẳng thể tính toán, vô số các cõi nước.
Quang minh đều chiếu thấu, trọn khắp các cõi ấy,
Chí tinh tiến như thế, oai thần khó lường được.
Con khi được thành Phật, sửa sang cõi nước này,
Chúng sanh trong nước đó, cũng tốt đẹp lạ thường.
Như cõi Niết Bàn kia, thế gian không thể sánh,
Con nay lòng thương xót, độ thoát cho tất cả.
Các chúng sanh sau này, lòng mong cầu tinh tiến,
Ðã đến nước con rồi, đều an lành vui vẻ.
May được Phật tin rõ, tâm thành thật của con,
Phát nguyện về Tịnh Ðộ, nhờ tinh tiến tu hành.
Mười phương các đức Phật, trí huệ rộng thấu suốt,
Thường khiến đức Phật này, biết rõ tâm hạnh con.
Dù thân có mỏi mòn, trong mọi nỗi khổ đau,
Con vẫn gắng tu hành, dù chết chẳng ăn năn).
- Pháp Tạng tỳ-kheo thuyết thử tụng dĩ, nhi bạch Phật ngôn: ‘Dụy nhiên Thế Tôn! Ngã phát Vô Thượng Chánh Giác chi tâm, nguyện Phật vị ngã quảng tuyên kinh pháp. Ngã đương tu hành nhiếp thủ Phật quốc thanh tịnh trang nghiêm vô lượng diệu độ, linh ngã ư thế tốc thành Chánh Giác, bạt chư sanh tử cần khổ chi bổn’.
Phật ngữ A Nan:
- Thời Thế Tự Tại Vương Phật cáo Pháp Tạng tỳ-kheo: ‘Như sở tu hành trang nghiêm Phật độ, nhữ tự đương tri’. Tỳ-kheo bạch Phật: ‘Tư nghĩa hoằng thâm, phi ngã cảnh giới. Duy nguyện Thế Tôn quảng vị phu diễn chư Phật Như Lai tịnh độ chi hạnh. Ngã văn thử dĩ, đương như thuyết tu hành, thành mãn sở nguyện’.
Nhĩ thời, Thế Tự Tại Vương Phật, tri kỳ cao minh, chí nguyện thâm quảng, tức vị Pháp Tạng tỳ-kheo, nhi thuyết kinh ngôn: ‘Thí như đại hải, nhất nhân đẩu lượng kinh lịch kiếp số, thượng khả cùng để, đắc kỳ diệu bảo. Nhân hữu chí tâm tinh tấn cầu đạo bất chỉ, hội đương khắc quả, hà nguyện bất đắc!’
Ư thị Thế Tự Tại Vương Phật, tức vị quảng thuyết nhị bách nhất thập ức chư Phật sát độ thiên nhân chi thiện ác, quốc độ chi thô diệu, ứng kỳ tâm nguyện, tất hiện dữ chi.
- Tỳ-kheo Pháp Tạng nói lời khen ngợi xong, lại bạch Phật rằng: ‘Bạch đức Thế Tôn! Con phát tâm Vô Thượng Chánh Giác cúi xin đức Phật rộng nói kinh pháp cho con nghe, con sẽ tu hành cho chóng thành Chánh Giác, dứt bỏ gốc nguồn khổ não trong đường sanh tử, để giữ lấy cõi nước Phật thanh tịnh trang nghiêm và pháp tạng mầu nhiệm của chư Phật’.
Phật bảo A Nan:
- Bấy giờ đức Thế Tự Tại Vương bảo tỳ-kheo Pháp Tạng rằng: ‘Chắc ông đã biết cách tu hành để trang nghiêm cõi Phật rồi chăng?’ Tỳ-kheo Pháp Tạng bạch Phật: ‘Nghĩa ấy sâu rộng không thể nghĩ bàn, không phải cảnh giới của con. Kính xin Thế Tôn rộng lòng diễn giải hạnh nguyện về cảnh giới Tịnh Ðộ của chư Phật cho con nghe. Nghe rồi, con sẽ y theo thuyết đó tu hành cho hoàn thành sở nguyện’.
Khi ấy, đức Phật Thế Tự Tại Vương biết ông là người cao minh có chí nguyện sâu rộng, liền nói kinh cho tỳ-kheo Pháp Tạng nghe rằng: ‘Ví như người lấy đấu để lường biển cả, trải qua nhiều kiếp còn có thể lường tới đáy sâu, lấy được của báu. Huống chi, người dốc lòng tinh tiến cầu đạo không mỏi mệt, ắt sẽ có kết quả, nguyện gì mà chẳng được!’
Ðức Phật Thế Tự Tại Vương lại nói rộng ra hai trăm năm mươi ức cõi nước chư Phật, việc lành dữ của trời và người, sự tốt xấu của cõi nước ứng hợp với tâm nguyện cho ngài tỳ-kheo Pháp Tạng nghe).
A Nan bạch Phật:
- Bỉ Phật quốc độ thọ lượng kỷ hà?
Phật ngôn:
- Kỳ Phật thọ mạng tứ thập nhị kiếp. Thời Pháp Tạng tỳ-kheo nhiếp thủ nhị bách nhất thập ức chư Phật diệu độ thanh tịnh chi hạnh. Như thị tu dĩ, nghệ bỉ Phật sở, khể thủ lễ túc, nhiễu Phật tam táp, hợp chưởng nhi trụ, bạch ngôn: ‘Thế Tôn! Ngã dĩ nhiếp thủ trang nghiêm Phật độ thanh tịnh chi hạnh’. Phật cáo tỳ-kheo: ‘Nhữ kim khả thuyết, nghi tri thị thời, phát khởi duyệt khả nhất thiết đại chúng. Bồ Tát văn dĩ tu hành thử pháp, duyên trí mãn túc vô lượng đại nguyện’. Tỳ-kheo bạch Phật: ‘Dụy thùy thính sát, như ngã sở nguyện, đương cụ thuyết chi’.
A Nan bạch Phật rằng:
- Ðức Phật ở cõi nước kia thọ được bao nhiêu tuổi?
Ðức Phật dạy rằng:
- Thọ mạng của đức Phật ấy được bốn mươi hai kiếp. Lúc ấy, tỳ-kheo Pháp Tạng giữ lấy hạnh thanh tịnh trong hai trăm mười ức cõi nước mầu nhiệm của chư Phật. Sau khi chứng quả, Ngài đến chỗ đức Phật Thế Tự Tại Vương dập đầu lễ dưới chân Phật, đi chung quanh Phật ba vòng rồi đứng lại, chắp tay bạch Phật rằng: ‘Lạy đức Thế Tôn! Con đã giữ được hạnh thanh tịnh để trang nghiêm cõi Phật rồi!’ Ðức Phật bảo tỳ-kheo Pháp Tạng rằng: ‘Ông nên biết bây giờ là lúc ông có thể nói ra cho tất cả đại chúng được sanh lòng vui vẻ. Các vị Bồ Tát nghe nói rồi tu hành theo phép ấy, thành tựu vô số các điều nguyện lớn’. Tỳ-kheo Pháp Tạng bạch Phật rằng: ‘Kính xin đức Thế Tôn rủ lòng thương, xét cho các điều nguyện lớn của con sau đây’).
2. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, thọ chung chi hậu, phục cánh tam ác đạo giả, bất thủ Chánh Giác.
3. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, bất tất chân kim sắc giả, bất thủ Chánh Giác.
4. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, hình sắc bất đồng hữu hảo xú giả, bất thủ Chánh Giác.
5. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, bất tất thức Túc Mạng, hạ chí tri bách thiên ức na-do-tha chư kiếp sự giả, bất thủ Chánh Giác.
6. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, bất đắc Thiên Nhãn, hạ chí kiến bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác.
7. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, bất đắc Thiên Nhĩ, hạ chí văn bách thiên ức na-do-tha chư Phật sở thuyết, bất tất thọ trì giả, bất thủ Chánh Giác.
8. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, bất đắc kiến Tha Tâm Trí, hạ chí tri bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc trung chúng sanh tâm niệm giả, bất thủ Chánh Giác.
9. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, bất đắc Thần Túc, ư nhất niệm khoảnh hạ chí bất năng siêu quá bách thiên ức nado- tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác.
10. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, nhược khởi tưởng niệm tham kế thân giả, bất thủ Chánh Giác.
11. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, bất trụ định tụ, tất chí diệt độ giả, bất thủ Chánh Giá
12. Thiết ngã đắc Phật, quang minh hữu năng hạn lượng, hạ chí bất chiếu bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác.
13. Thiết ngã đắc Phật, thọ mạng hữu năng hạn lượng, hạ chí bách thiên ức na-do-tha kiếp giả, bất thủ Chánh Giác.
14. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Thanh Văn hữu năng kế lượng, nãi chí tam thiên đại thiên thế giới chúng sanh Duyên Giác, ư bách thiên kiếp tất cộng kế giảo, tri kỳ số giả, bất thủ Chánh Giác.
15. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, thọ mạng vô năng hạn lượng, trừ kỳ bổn nguyện tu đoản tự tại, nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
16. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, nãi chí văn hữu bất thiện danh giả, bất thủ Chánh Giác.
17. Thiết ngã đắc Phật, thập phương thế giới vô lượng chư Phật, bất tất tư ta xưng ngã danh giả, bất thủ Chánh Giác.
18. Thiết ngã đắc Phật, thập phương chúng sanh chí tâm tín nhạo, dục sanh ngã quốc nãi chí thập niệm, nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác, duy trừ Ngũ Nghịch phỉ báng Chánh Pháp.
19. Thiết ngã đắc Phật, thập phương chúng sanh phát Bồ Đề tâm, tu chư công đức, chí tâm phát nguyện, dục sanh ngã quốc, lâm thọ chung thời, giả linh bất dữ đại chúng vi nhiễu, hiện kỳ nhân tiền giả, bất thủ Chánh Giác.
20. Thiết ngã đắc Phật, thập phương chúng sanh văn ngã danh hiệu, hệ niệm ngã quốc, thực chư đức bổn, chí tâm hồi hướng, dục sanh ngã quốc, bất quả toại giả, bất thủ Chánh Giác.
21. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, bất tất thành mãn tam thập nhị đại nhân tướng giả, bất thủ Chánh Giác.
22. Thiết ngã đắc Phật, tha phương Phật độ chư Bồ Tát chúng lai sanh ngã quốc, cứu cánh tất chí Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ kỳ bổn nguyện tự tại sở hóa, vị chúng sanh cố, bị hoằng thệ khải, tích lũy đức bổn, độ thoát nhất thiết, du chư Phật quốc, tu Bồ Tát hạnh, cúng dường thập phương chư Phật Như Lai, khai hóa Hằng sa vô lượng chúng sanh, sử lập Vô Thượng Chánh Chân chi đạo. Siêu xuất thường luân, chư địa chi hạnh, hiện tiền tu tập Phổ Hiền chi đức. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
23. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, thừa Phật thần lực cúng dường chư Phật, nhất thực chi khoảnh, bất năng biến chí vô lượng vô số ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác.
24. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, tại chư Phật tiền, hiện kỳ đức bổn, chư sở cầu dục cúng dường chi cụ, nhược bất như ý giả, bất thủ Chánh Giác.
1.(Kinh: Ðiều nguyện thứ nhất: Nếu con được thành Phật mà trong cõi nước con còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
2. Ðiều nguyện thứ hai: Nếu con được thành Phật mà trời và người trong cõi nước con sau khi thọ chung còn phải sa vào đường dữ thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
3. Ðiều nguyện thứ ba: Nếu con được thành Phật mà tất cả trời và người trong cõi nước con thân không giống màu vàng y thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
4. Ðiều nguyện thứ tư: Nếu con được thành Phật mà tất cả trời và người trong cõi nước con thân hình còn có kẻ đẹp, người xấu thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
5. Ðiều nguyện thứ năm: Nếu con được thành Phật mà trời và người trong cõi nước con không biết rõ Túc Mạng của mình và những việc đã xảy ra trong trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
6. Ðiều nguyện thứ sáu: Nếu con được thành Phật mà trời và người trong cõi nước con không được pháp Thiên Nhãn, cho đến không thấy rõ trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
7. Ðiều nguyện thứ bảy: Nếu con được thành Phật mà trời và người trong cõi nước con không được pháp Thiên Nhĩ, không được nghe và thọ trì hết thảy lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na-do-tha các đức Phật thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
8. Ðiều nguyện thứ tám: Nếu con được thành Phật mà trời và người trong cõi nước con, không được thấy tâm trí kẻ khác, cho đến không biết rõ tâm niệm của hết thảy chúng sanh trong trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
9. Ðiều nguyện thứ chín: Nếu con được thành Phật mà trời và người trong cõi nước con, không được pháp Thần Túc, trong một khoảng một niệm, cho đến không vượt qua được trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
10. Ðiều nguyện thứ mười: Nếu con được thành Phật mà trời và người trong cõi nước con còn có ý niệm tham chấp thân hình thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
11. Ðiều nguyện thứ mười một: Nếu con được thành Phật mà trời và người trong cõi nước con không trụ vào Chánh Định và chứng quả Niết Bàn thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
12. Ðiều nguyện thứ mười hai: Nếu con được thành Phật mà ánh sáng còn có hạn lượng, không soi thấu được trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
13. Ðiều nguyện thứ mười ba: Nếu con được thành Phật mà thọ mạng còn có hạn lượng, chỉ được trăm ngàn ức na-do-tha kiếp thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
14. Ðiều nguyện thứ mười bốn: Nếu con được thành Phật mà hàng Thanh Văn trong cõi nước con còn có thể tính đếm được và chúng sanh trong ba ngàn đại thiên thế giới ở trong trăm ngàn kiếp thành bậc Duyên Giác hết, rồi tính đếm mà biết được số đó là bao nhiêu thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
15. Ðiều nguyện thứ mười lăm: Nếu con được thành Phật mà trời và người trong cõi nước con thọ mạng còn có hạn lượng, trừ phi những bản nguyện riêng của họ muốn dài, ngắn đều được tự tại. Nếu không được như vậy thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
16. Ðiều nguyện thứ mười sáu: Nếu con được thành Phật mà trời và người trong cõi nước con còn có ai nghe thấy tiếng chẳng lành thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
17. Ðiều nguyện thứ mười bảy: Nếu con được thành Phật mà vô lượng chư Phật ở mười phương thế giới không ngợi khen danh hiệu của con thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
18. Ðiều nguyện thứ mười tám: Nếu con được thành Phật mà chúng sanh trong mười phương dốc lòng tin tưởng, muốn sanh về cõi nước con chỉ trong mười niệm, nếu không được toại nguyện thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác, trừ kẻ phạm năm tội nghịch và gièm chê chánh pháp.
19. Ðiều nguyện thứ mười chín: Nếu con được thành Phật mà chúng sanh mười phương phát tâm Bồ Ðề, tu các công đức, dốc lòng phát nguyện, muốn sanh về cõi nước con, tới khi thọ chung mà con chẳng cùng đại chúng hiện ra chung quanh trước mặt người ấy thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
20. Ðiều nguyện thứ hai mươi: Nếu con được thành Phật mà chúng sanh trong mười phương nghe danh hiệu của con, để lòng nhớ nghĩ đến nước con, tu trồng các công đức, dốc lòng hồi hướng, cầu sanh về cõi nước con mà không được vừa lòng thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
21. Ðiều nguyện thứ hai mươi mốt: Nếu con được thành Phật mà trời và người trong cõi nước con chẳng được đầy đủ ba mươi hai tướng của bậc đại nhân thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
22. Ðiều nguyện thứ hai mươi hai: Nếu con được thành Phật, hết thảy chúng Bồ Tát ở cõi Phật phương khác sanh về cõi nước con, sau đó sẽ tới bậc Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ bản nguyện riêng của mỗi vị tự tại hóa hiện, vì thương xót chúng sanh mà rộng lớn, bền chắc như áo giáp, tu các công đức, độ thoát hết thảy, rồi qua khắp các cõi Phật, tu hạnh Bồ Tát và cúng dường mười phương chư Phật, khai hóa vô số chúng sanh khiến lập nên đạo Vô Thượng Chánh Giác. Chư vị vượt ngoài công hạnh, thông thường ở các địa vị mà tu tập theo hạnh nguyện của đức Phổ Hiền. Nếu không được như thế thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
23. Ðiều nguyện thứ hai mươi ba: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cõi nước con, nương sức thần lực của Phật đi cúng dường các đức Phật trong khoảng thời gian một bữa ăn mà không tới được vô số, vô lượng ức na-do-tha các cõi Phật thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
24. Ðiều nguyện thứ hai mươi bốn: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cõi nước con ở trước chư Phật hiện ra công đức, muốn có muôn vàn vật dụng để cúng dường. Nếu không được như ý thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác).
26. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát bất đắc kim cương Na La Diên thân giả, bất thủ Chánh Giác.
27. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, nhất thiết vạn vật nghiêm tịnh quang lệ, hình sắc thù đặc, cùng vi cực diệu, vô năng xưng lượng, kỳ chư chúng sanh, nãi chí đãi đắc Thiên Nhãn, hữu năng minh liễu, biện kỳ danh số giả, bất thủ Chánh Giác.
28. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, nãi chí thiểu công đức giả, bất năng tri kiến kỳ đạo tràng thụ vô lượng quang sắc, cao tứ bách vạn lý giả, bất thủ Chánh Giác.
29. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, nhược thọ độc kinh pháp, phúng tụng, trì thuyết, nhi bất đắc biện tài trí huệ giả, bất thủ Chánh Giác.
30. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, trí huệ biện tài nhược khả hạn lượng giả, bất thủ Chánh Giác.
31. Thiết ngã đắc Phật, quốc độ thanh tịnh, giai tất chiếu kiến thập phương nhất thiết vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới, do như minh kính, đổ kỳ diện tượng. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
32. Thiết ngã đắc Phật, tự địa dĩ thượng, chí ư hư không, cung, điện, lâu, quán, trì lưu, hoa thụ, quốc độ sở hữu nhất thiết vạn vật, giai dĩ vô lượng tạp bảo bách thiên chủng hương nhi cộng hợp thành, nghiêm sức kỳ diệu, siêu chư nhân thiên. Kỳ hương phổ huân thập phương thế giới, Bồ Tát văn giả giai tu Phật hạnh. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
33. Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chúng sanh chi loại, mông ngã quang minh xúc kỳ thể giả, thân tâm nhu nhuyễn, siêu quá nhân thiên. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
34. Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chúng sanh chi loại, văn ngã danh tự, bất đắc Bồ Tát Vô Sanh Pháp Nhẫn, chư thâm tổng trì giả, bất thủ Chánh Giác.
35. Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới, kỳ hữu nữ nhân văn ngã danh tự, hoan hỷ tín nhạo, phát Bồ Đề tâm, yếm ố nữ thân, thọ chung chi hậu, phục vi nữ tượng giả, bất thủ Chánh Giác.
36 Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, thọ chung chi hậu, thường tu Phạm hạnh, chí thành Phật đạo. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
37. Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chư thiên, nhân dân, văn ngã danh tự, ngũ thể đầu địa, khể thủ tác lễ, hoan hỷ tín nhạo, tu Bồ Tát hạnh, chư thiên thế nhân mạc bất trí kính. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
38. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, dục đắc y phục tùy niệm tức chí, như Phật sở tán ứng pháp diệu phục tự nhiên tại thân, nhược hữu tài, phùng, nhiễm trị, hoán trạc giả, bất thủ Chánh Giác.
39. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên sở thọ khoái lạc, bất như Lậu Tận tỳ-kheo giả, bất thủ Chánh Giác.
40. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, tùy ý dục kiến thập phương vô lượng nghiêm tịnh Phật độ, ứng thời như nguyện, ư bảo thụ trung, giai tất chiếu kiến, do như minh kính đổ kỳ diện tượng. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
41. Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự chí ư đắc Phật, chư căn khuyết lậu, bất cụ túc giả, bất thủ Chánh Giác.
42. Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, giai tất đãi đắc thanh tịnh giải thoát tam-muội. Trụ thị tam-muội, nhất phát ý khoảnh, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, nhi bất thất định ý. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
43. Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng văn ngã danh tự, thọ chung chi hậu, sanh tôn quý gia. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
44. Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, hoan hỷ dũng dược, tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
45. Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng văn ngã danh tự, giai tất đãi đắc phổ đẳng tam-muội. Trụ thị tam-muội, chí ư thành Phật, thường kiến vô lượng bất khả tư nghị nhất thiết Như Lai. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
46. Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát tùy kỳ chí nguyện sở dục văn pháp, tự nhiên đắc văn. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
47. Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, bất tức đắc chí bất thoái chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
48. Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, bất tức đắc chí đệ nhất, đệ nhị, đệ tam Pháp Nhẫn, ư chư Phật pháp bất năng tức đắc bất thoái chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.
26. Ðiều nguyện thứ hai mươi sáu: Nếu con được thành Phật, các Bồ Tát trong cõi nước con không được thân Kim Cương Na La Diên thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
27. Ðiều nguyện thứ hai mươi bảy: Nếu con được thành Phật mà trời và người trong cõi nước cùng tất cả muôn vật không có hình sắc tốt đẹp, không thể tính lường, và hết thảy chúng sanh cho đến bậc đã được pháp Thiên Nhãn mà không nói được rõ ràng danh số thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh Giác.
28. Ðiều nguyện thứ hai mươi tám: Nếu con được thành Phật mà các Bồ Tát trong cõi nước con, cho đến kẻ có ít công đức nhất không thấy được ánh sáng muôn màu của cây Bồ Ðề cao bốn trăm vạn do-tuần thì con chẳng trụ ở ngô
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41
42.
43.
44.
45
46.
47.
48.
Hựu, Pháp Thân nhân Tu Đức hiển, diệc khả luận thành, luận kiếp. Báo Thân biệt vô tân đắc, Ứng Thân như nguyệt ấn xuyên, diệc vô thành, bất thành, bất ưng luận kiếp.
Đản chư Phật thành đạo, các hữu Bổn, Tích. Bổn địa tịnh bất khả trắc. Thả ước Cực Lạc thị thành chi Tích nhi ngôn, tức thị tam thân, nhất thành, nhất thiết thành. Diệc thị phi thành, phi bất thành, nhi luận thành dã.
Hựu, Phật thọ vô lượng, kim cẩn thập kiếp, tắc hiện tại thuyết pháp, thời chánh vị ương, phổ khuyến tam thế chúng sanh, tốc cầu vãng sanh, đồng Phật thọ mạng, nhất sanh thành biện dã.
Hựu, hạ văn vô số Thanh Văn, Bồ Tát, cập dữ Bổ Xứ, giai thập kiếp sở thành tựu, chánh hiển thập phương tam thế, vãng sanh Bất Thoái giả, đa thả dị dã.
Lại nữa, Pháp Thân do Tu Đức mà hiển lộ nên cũng có thể luận định “thành” và kiếp số. Báo Thân chẳng phải là mới đạt được. Ứng Thân như mặt trăng in bóng trên sông nên cũng chẳng có thành hay không thành, chẳng nên luận định kiếp số.
Nhưng chư Phật thành đạo, mỗi vị đều có Bổn và Tích. Bổn địa trọn chẳng thể suy lường được. Lại ước theo sự thị hiện thành Phật nơi Tích môn trong cõi Cực Lạc mà nói thì đối với tam thân, hễ thành được một thì hết thảy đều thành. Cũng có nghĩa là “chẳng phải thành, chẳng phải không thành”, nhưng lại luận định về sự “thành Phật”.
Hơn nữa, Phật thọ vô lượng, nay [A Di Đà Phật] mới chỉ [thành Phật] mười kiếp, tức là Ngài đang thuyết pháp trong hiện tại, thời gian đức Phật còn tại thế chưa hết, khuyên khắp các chúng sanh trong ba đời hãy mau cầu vãng sanh để có thọ mạng giống hệt như Phật, hoàn thành sự tu học chỉ trong một đời.
Hơn nữa, trong đoạn kinh văn phía sau có nói vô số Thanh Văn, Bồ Tát và Bổ Xứ đều thành tựu trong mười kiếp, chỉ rõ những người vãng sanh [chứng đắc] Bất Thoái trong mười phương ba đời đã nhiều lại còn dễ dàng.
(乙) 二特劝众生应求往生以发愿二: 初揭示无上因缘, 二特劝.
Cố vân “thành tựu như thị công đức trang nghiêm”, năng linh tín nguyện trì danh giả, niệm niệm diệc như thị thành tựu dã. Sơ quảng trần bỉ độ y chánh diệu quả dĩ khải tín cánh.
Vì thế nói “thành tựu công đức trang nghiêm như thế đó”, có thể khiến cho người tín nguyện trì danh niệm niệm cũng thành tựu như vậy. Phần thứ nhất [trong Chánh Tông Phần], nói rộng về diệu quả y báo và chánh báo nhằm khơi gợi lòng tin đã xong.
Nhược ước thử độ, Tạng Sơ Quả, Thông Kiến Địa, Biệt Sơ Trụ, Viên Sơ Tín, danh Vị Bất Thoái.
Thông Bồ Tát, Biệt Thập Hướng, Viên Thập Tín, danh Hạnh Bất Thoái.
Biệt Sơ Địa, Viên Sơ Trụ, danh Niệm Bất Thoái.
Kim Tịnh Độ, Ngũ Nghịch, Thập Ác, thập niệm thành tựu. Đới nghiệp vãng sanh, cư Hạ Hạ Phẩm giả, giai đắc tam Bất Thoái.
Nhiên cứ giáo đạo, nhược thị phàm phu, tắc phi Sơ Quả đẳng. Nhược thị Nhị Thừa, tắc phi Bồ Tát đẳng. Nhược thị Dị Sanh, tắc phi Đồng Sanh Tánh đẳng.
Hựu, Niệm Bất Thoái, phi phục Dị Sanh. Hạnh Bất Thoái, phi cẩn kiến đạo. Vị Bất Thoái, phi thị nhân dân. Lạp đẳng tắc thành đại vọng, tấn bộ tắc xả cố xưng.
Duy Cực Lạc Đồng Cư, nhất thiết câu phi, nhất thiết câu thị. Thập phương Phật độ, vô thử danh tướng, vô thử giai vị, vô thử pháp môn. Phi tâm tánh chi cực trí, trì danh chi kỳ huân, Di Đà chi đại nguyện, hà dĩ hữu thử? Nhất Sanh Bổ Xứ giả, chỉ nhất sanh bổ Phật vị, như Di Lặc, Quán Âm đẳng. Cực Lạc nhân dân, phổ giai nhất sanh thành Phật. Nhân nhân tất thật chứng Bổ Xứ. Cố kỳ trung đa hữu thử đẳng thượng thiện, bất khả sổ tri dã.
Phục thứ, Thích Ca nhất đại thời giáo, duy Hoa Nghiêm minh nhất sanh viên mãn, nhi nhất sanh viên mãn chi nhân, tắc mạt hậu Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm trung, thập đại nguyện vương, đạo quy An Dưỡng. Thả dĩ thử khuyến tấn Hoa Tạng hải chúng.
Ta hồ! Phàm phu lệ đăng Bổ Xứ, kỳ xướng cực đàm, bất khả trắc độ. Hoa Nghiêm sở bẩm, khước tại thử kinh, nhi thiên hạ cổ kim, tín miểu, nghi đa, từ phồn, nghĩa thực, dư duy hữu phẫu tâm lịch huyết nhi dĩ.
a. Vị Bất Thoái: Nhập dòng Thánh, chẳng đọa vào địa vị phàm phu.
b. Hạnh Bất Thoái: Luôn độ sanh, chẳng đọa vào địa vị Nhị Thừa.
c. Niệm Bất Thoái: Tâm tâm lưu nhập biển Nhất Thiết Trí.
Nếu dựa theo cõi này [để luận định] thì [các địa vị như] Sơ Quả trong Tạng Giáo, Kiến Địa trong Thông Giáo, Sơ Trụ trong Biệt Giáo và Sơ Tín trong Viên Giáo gọi là Vị Bất Thoái.
Bậc Bồ Tát trong Thông Giáo, bậc Thập Hướng trong Biệt Giáo, bậc Thập Tín trong Viên Giáo thì gọi là Hạnh Bất Thoái.
Bậc Sơ Địa trong Biệt Giáo, bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo thì gọi là Niệm Bất Thoái.
Nay Tịnh Độ thì kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác, mười niệm thành tựu vãng sanh trong Hạ Hạ Phẩm đều đắc ba thứ Bất Thoái.
Nhưng căn cứ theo đạo lý [thông thường] trong hết thảy kinh điển thì nếu là phàm phu, sẽ chẳng giống với bậc Sơ Quả. Nếu là Nhị Thừa, sẽ chẳng phải là bậc Bồ Tát. Nếu là Dị Sanh Tánh (địa vị Tam Hiền trong Biệt Giáo) sẽ chẳng giống với bậc Đồng Sanh Tánh (Sơ Trụ trong Viên Giáo).
Lại nữa, Niệm Bất Thoái chẳng còn là Dị Sanh, Hạnh Bất Thoái thì chẳng phải chỉ mới thấy đạo, Vị Bất Thoái thì chẳng phải là nhân dân. [Trong giáo pháp thông thường] nếu thuộc địa vị dưới mà nói lấn lên bậc trên sẽ trở thành đại vọng ngữ, phải vượt lên địa vị mới thì mới bỏ danh xưng cũ.
Chỉ có trong cõi Đồng Cư của Cực Lạc, hết thảy đều chẳng phải, mà hết thảy cũng đều phải. Các cõi Phật trong mười phương đều chẳng có danh tướng này, không có địa vị này, không có pháp môn này. Nếu không phải là do tâm tánh đạt đến tột bậc, công hun đúc kỳ diệu của pháp trì danh, và Di Đà đại nguyện thì làm sao đạt được như thế này? Nhất Sanh Bổ Xứ là chỉ một đời sẽ được bổ đi làm Phật, giống như Di Lặc, Quán Âm, v.v... Trọn khắp nhân dân trong cõi Cực Lạc đều là bậc thành Phật trong một đời, ai nấy đều thật sự chứng được địa vị Bổ Xứ. Vì thế trong ấy có nhiều bậc thượng thiện như thế, chẳng thể tính biết được!
Hơn nữa, trong những giáo pháp của cả đời Phật Thích Ca, chỉ mình kinh Hoa Nghiêm nói đến sự viên mãn trong một đời, nhưng cái nhân viên mãn trong một đời nằm trong phẩm cuối cùng là phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, mười đại nguyện vương dẫn về An Dưỡng. Lại còn dùng điều này để khuyên lơn, sách tấn Hoa Tạng hải chúng.
Than ôi! Phàm phu mà được dự vào bậc Bổ Xứ là một sự khởi xướng bàn luận lạ lùng, cao tột, chẳng thể suy lường được. Điểm đặc thù của kinh Hoa Nghiêm hoàn toàn nằm trong kinh này, nhưng thiên hạ xưa nay, người tin tưởng ít ỏi, kẻ nghi ngờ đông nhiều. Càng nói lắm, nghĩa càng hao, tôi chỉ có cách mổ tim vẩy máu mà [nêu bày cho rõ nghĩa này] mà thôi!
(乙) 三正示行者执持名号以立行二: 初正示无上因果, 二重劝. (丙) 今初
“Câu hội nhất xứ”, do ngôn Phàm Thánh Đồng Cư, tầm thường do thật Thánh quá khứ hữu lậu nghiệp, quyền Thánh đại từ bi nguyện, cố phàm phu đắc dữ Thánh nhân đồng cư. Chí thật Thánh hôi thân, quyền Thánh cơ tận, tiện thăng trầm thạc dị, khổ lạc huyền thù. Nãi tạm đồng, phi cứu cánh đồng dã.
Hựu, thiên nhưỡng chi gian, kiến văn giả thiểu, hạnh hoạch kiến văn, thân cận bộ xu giả thiểu. Hựu, Phật thế Thánh nhân túng đa, như trân, như thụy, bất năng biến mãn quốc độ, như chúng tinh, vi trần. Hựu, cư tuy đồng, nhi sở tác, sở biện, tắc huýnh bất đồng. Kim đồng dĩ vô lậu bất tư nghị nghiệp, cảm sanh câu hội nhất xứ, vi sư hữu, như huân, như trì, đồng tận vô minh, đồng đăng Diệu Giác.
Thị tắc hạ phàm chúng sanh ư Niệm Bất Thoái trung, siêu tận tứ thập nhất nhân vị. Nhược vị thị phàm phu, khước bất lịch Dị Sanh, tất bổ Phật chức, dữ Quán Âm, Thế Chí vô biệt. Nhược vị thị Nhất Sanh Bổ Xứ, khước khả danh phàm phu, bất khả danh Đẳng Giác Bồ Tát. Thử giai giáo võng sở bất năng thâu, sát võng sở bất năng lệ.
Đương tri ngô nhân đại sự nhân duyên, Đồng Cư nhất quan, tối nan thấu thoát. Duy Cực Lạc Đồng Cư, siêu xuất thập phương Đồng Cư chi ngoại. Liễu thử phương năng thâm tín Di Đà nguyện lực. Tín Phật lực, phương năng thâm tín danh hiệu công đức. Tín trì danh, phương năng thâm tín ngô nhân tâm tánh, bổn bất khả tư nghị dã. Cụ thử thâm tín, phương năng phát ư đại nguyện. Văn trung “ưng đương” nhị tự, tức chỉ thâm tín.
Thâm tín phát nguyện, tức Vô Thượng Bồ Đề. Hợp thử tín nguyện, đích vi Tịnh Độ chỉ nam. Do thử nhi chấp trì danh hiệu, nãi vi Chánh Hạnh. Nhược tín nguyện kiên cố, lâm chung thập niệm, nhất niệm, diệc quyết đắc sanh. Nhược vô tín nguyện, túng tương danh hiệu trì chí phong xuy bất nhập, vũ đả bất thấp, như ngân tường, thiết bích tương tự, diệc vô đắc sanh chi lý. Tu tịnh nghiệp giả, bất khả bất tri dã. Đại Bổn A Di Đà Kinh, diệc dĩ “phát Bồ Đề nguyện” vi yếu, chánh dữ thử đồng.
“Cùng tụ hội một chỗ”: Nếu nói về Phàm Thánh Đồng Cư thì thông thường, bậc thật Thánh do có nghiệp hữu lậu trong quá khứ, bậc quyền Thánh (Thánh nhân thị hiện) do đại nguyện từ bi, nên phàm phu được ở chung một cõi với Thánh nhân. Đến khi bậc thật Thánh diệt thân và cơ duyên thị hiện của bậc quyền Thánh đã hết, [thì phàm phu và Thánh nhân] liền thăng trầm thật khác biệt, khổ sướng rất khác, nên chỉ là “tạm đồng” (ở chung với nhau tạm thời), chứ không phải là rốt ráo “đồng”.
Hơn nữa, trong khoảng trời đất, ít ai thấy nghe [Thánh nhân], những người may mắn được thấy, nghe, thân cận, theo học hỏi chỉ là số ít. Hơn nữa, khi Phật tại thế, Thánh nhân dẫu đông, nhưng [vẫn là hiếm hoi] như đồ quý báu, như vật tốt lành, chẳng thể trọn khắp cõi nước giống như các ngôi sao hay vi trần. Hơn nữa, tuy cùng sống [trong một quốc độ], nhưng việc làm, hành động hết sức khác biệt. Nay [trong cõi Cực Lạc] thì cùng do nghiệp vô lậu chẳng thể nghĩ bàn cảm vời mà cùng tụ hội một chỗ, làm thầy bạn cho nhau, giống như ống tiêu với ống sáo, cùng hết sạch vô minh, cùng đạt lên Diệu Giác.
Do vậy, chúng sanh kém cỏi, phàm phu, ở trong Niệm Bất Thoái, vượt trọn hết bốn mươi mốt địa vị tu nhân. Nếu bảo họ là phàm phu thì họ chẳng trải qua các địa vị Dị Sanh, mà dự ngay vào địa vị Bổ Xứ, chẳng khác gì Quán Âm, Thế Chí. Nếu bảo họ là Nhất Sanh Bổ Xứ thì chỉ có thể gọi họ là phàm phu, chẳng thể gọi họ là Đẳng Giác Bồ Tát. Điều này chẳng thể gồm thâu trong giáo pháp nào, mà cũng chẳng thể có trong bất cứ cõi nước nào.
Hãy nên biết đối với nhân duyên đại sự của chúng ta, một cửa ải Đồng Cư khó thể vượt thoát nhất. Chỉ có cõi Đồng Cư trong Cực Lạc vượt khỏi các cõi Đồng Cư trong mười phương. Hiểu rõ điều này rồi thì mới có thể tin sâu vào nguyện lực của Phật Di Đà. Có tin vào Phật lực thì mới có thể tin tưởng sâu xa công đức của danh hiệu. Tin vào trì danh thì mới có thể tin tưởng sâu xa tâm tánh của chúng ta vốn chẳng thể nghĩ bàn. Có lòng tin sâu xa như vậy rồi thì mới có thể phát ra đại nguyện. Hai chữ “hãy nên” trong kinh văn chính là nói đến lòng tin sâu xa.
Tin sâu, phát nguyện chính là Vô Thượng Bồ Đề. Gộp cả hai thứ Tín và Nguyện này, đích xác là kim chỉ nam cho pháp môn Tịnh Độ. Do hai điều này mà chấp trì danh hiệu thì là Chánh Hạnh. Nếu tín nguyện kiên cố, lâm chung mười niệm hoặc một niệm, cũng quyết định được vãng sanh. Nếu không có tín nguyện, dẫu trì danh hiệu đến mức gió thổi chẳng lọt, mưa táp chẳng ướt giống như tường bạc vách sắt thì cũng chẳng có lẽ nào được vãng sanh! Người tu Tịnh nghiệp chẳng thể không biết điều này. Đại Bổn A Di Đà Kinh cũng coi “phát nguyện Bồ Đề” là trọng yếu, hoàn toàn giống như kinh này.
Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Đề thiện căn thiểu, nhân thiên hữu lậu phước nghiệp, phước đức thiểu, giai bất khả sanh Tịnh Độ. Duy dĩ tín nguyện chấp trì danh hiệu, tắc nhất nhất thanh, tất cụ đa thiện căn, phước đức, tán tâm xưng danh, phước thiện diệc bất khả lượng, huống nhất tâm bất loạn tai.
Cố sử cảm ứng đạo giao, văn thành ấn hoại, Di Đà Thánh chúng, bất lai nhi lai, thân thùy tiếp dẫn, hành nhân tâm thức, bất vãng nhi vãng, thác chất bảo liên dã.
Thiện nam nữ giả, bất luận xuất gia, tại gia, quý, tiện, lão, thiếu, lục thú, tứ sanh, đản văn Phật danh, tức đa kiếp thiện căn thành thục. Ngũ Nghịch, Thập Ác giai danh “thiện” dã.
Thiện nam nữ giả, bất luận xuất gia, tại gia, quý, tiện, lão, thiếu, lục thú, tứ sanh, đản văn Phật danh, tức đa kiếp thiện căn thành thục. Ngũ Nghịch, Thập Ác giai danh “thiện” dã.
A Di Đà Phật thị vạn đức hồng danh, dĩ danh triệu đức, khánh vô bất tận. Cố tức dĩ chấp trì danh hiệu vi Chánh Hạnh, bất tất cánh thiệp quán tưởng, tham cứu đẳng hạnh, chí giản dị, chí trực tiệp dã. Văn nhi tín, tín nhi nguyện, nãi khẳng chấp trì. Bất tín, bất nguyện, dữ bất văn đẳng, tuy vi viễn nhân, bất danh Văn Huệ.
Chấp trì, tắc niệm niệm ức Phật danh hiệu. Cố thị Tư Huệ. Nhiên hữu sự trì, lý trì.
Sự trì giả, tín hữu Tây Phương A Di Đà Phật, nhi vị đạt “thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật”, đản dĩ quyết chí nguyện cầu sanh cố, như tử ức mẫu, vô thời tạm vong.
Lý trì giả, tín Tây Phương A Di Đà Phật thị ngã tâm cụ, thị ngã tâm tạo, tức dĩ tự tâm sở cụ sở tạo hồng danh, vi hệ tâm chi cảnh, linh bất tạm vong dã.
Nhất nhật chí thất nhật giả, khắc kỳ biện sự dã. Lợi căn nhất nhật tức bất loạn. Độn căn thất nhật phương bất loạn. Trung căn nhị, tam, tứ, ngũ, lục nhật bất định. Hựu lợi căn năng thất nhật bất loạn. Độn căn cẩn nhất nhật bất loạn. Trung căn lục, ngũ, tứ, tam, nhị nhật bất định.
Nhất tâm diệc nhị chủng, bất luận Sự Trì, Lý Trì, trì chí phục trừ phiền não, nãi chí Kiến Tư tiên tận, giai Sự nhất tâm. Bất luận Sự Trì, Lý Trì, trì chí tâm khai, kiến bổn tánh Phật, giai Lý nhất tâm. Sự nhất tâm bất vị Kiến Tư sở loạn, Lý nhất tâm bất vị nhị biên sở loạn, tức Tu Huệ dã.
Bất vị Kiến Tư loạn, cố cảm biến hóa thân Phật, cập chư Thánh chúng hiện tiền, tâm bất phục khởi, Sa Bà giới trung, tam hữu điên đảo, vãng sanh Đồng Cư, Phương Tiện, nhị chủng Cực Lạc thế giới.
Bất vị Nhị Biên loạn, cố cảm thụ dụng thân Phật, cập chư Thánh chúng hiện tiền, tâm bất phục khởi sanh tử, Niết Bàn nhị kiến điên đảo, vãng sanh Thật Báo, Tịch Quang nhị chủng Cực Lạc thế giới.
Đương tri chấp trì danh hiệu, ký giản dị, trực tiệp, nhưng chí đốn, chí viên, dĩ niệm niệm tức Phật cố, bất lao quán tưởng, bất tất tham cứu, đương hạ viên minh, vô dư, vô khiếm.
Thượng thượng căn, bất năng du kỳ khổn. Hạ hạ căn diệc năng trăn kỳ vực. Kỳ sở cảm Phật, sở sanh độ, vãng vãng thắng tấn, diệc bất nhất khái. Khả vị: Hoành cai bát giáo, thụ triệt ngũ thời. Sở dĩ triệt để bi tâm, vô vấn tự thuyết, thả thâm thán kỳ nan tín dã.
Vấn: Quán Kinh chuyên minh tác quán, hà vị bất lao quán tưởng?
Đáp: Thử nghĩa tức xuất Quán Kinh. Bỉ kinh nhân thắng quán phi phàm phu tâm lực sở cập, cố ư đệ thập tam, biệt khai liệt tượng chi quán, nhi chướng trọng giả, do bất năng niệm bỉ Phật, cố ư đệ thập lục, đại khai xưng danh chi môn. Kim kinh nhân mạt thế chướng trọng giả đa, cố chuyên chủ đệ thập lục quán. Đương tri nhân căn tuy độn, nhi trượng lục, bát xích chi tượng thân, Vô Lượng Thọ Phật chi danh tự, vị thường bất “tâm tác, tâm thị”. Cố quán liệt giả, bất lao thắng quán, nhi xưng danh giả, tịnh bất lao quán tưởng dã.
Vấn: Thiên Kỳ, Độc Phong chư Tổ, giai chủ tham “niệm Phật giả thị thùy”. Hà vị bất tất tham cứu?
Đáp: Thử nghĩa tức xuất Thiên Kỳ chư Tổ. Tiền Tổ nhân niệm Phật nhân bất khế Thích Ca triệt để bi tâm, cố bàng bất cam, trực hạ cật vấn, nhất mãnh đề tỉnh, hà chỉ trường dạ phục đán. Ngã bối chí kim nhật, do bất khẳng tử tâm niệm Phật, khổ dục chấp xao môn ngõa tử, hướng ốc lý đả thân sanh gia nương, tắc ư chư Tổ thành ác nghịch, phi thiện thuận dã.
Tấn vấn: Thử tại khẳng tâm giả tắc khả, vị khẳng giả hà đắc tương ứng?
Viết: Y! Chánh duy vị khẳng. Sở dĩ, yếu nhĩ khẳng tâm tương ứng. Nhữ đẳng chánh tín vị khai, như sanh ngưu bì, bất khả khuất chiết. Đương tri hữu mục giả, cố vô nhật hạ nhiên đăng chi lý, nhi vô mục giả, diệc hà tất ư nhật trung khổ mịch đăng cự. Đại Thế Chí Pháp Vương Tử vân: “Bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai”. Thử Nhất Hạnh tam-muội trung, đại hỏa tụ ngữ dã. Cảm hữu xúc giả, ninh bất bị thiêu?
Vấn: Lâm chung Phật hiện, ninh bảo phi ma?
Đáp: Tu tâm nhân bất tác Phật quán, nhi Phật hốt hiện, phi bổn sở kỳ, cố danh ma sự. Niệm Phật kiến Phật, dĩ thị tương ứng, huống lâm chung phi trí ma thời, hà tu nghi lự?
Vấn: Thất nhật bất loạn, bình thời da? Lâm chung da?
Đáp: Bình thời dã.
Vấn: Thất nhật bất loạn chi hậu, phục khởi Hoặc tạo nghiệp, diệc đắc sanh da?
Đáp: Quả đắc nhất tâm bất loạn chi nhân, vô cánh khởi Hoặc tạo nghiệp chi sự.
Vấn: Đại Bổn thập niệm, Bảo Vương nhất niệm, bình thời da? Lâm chung da?
Đáp: Thập niệm thông nhị thời. Thần triêu thập niệm, thuộc bình thời. Thập niệm đắc sanh dữ Quán Kinh thập niệm xưng danh đồng, thuộc lâm chung thời. Nhất niệm tắc đản ước lâm chung thời.
Vấn: Thập niệm, nhất niệm tịnh đắc sanh, hà tu thất nhật?
Đáp: Nhược vô bình thời thất nhật công phu, an hữu lâm chung thập niệm, nhất niệm. Túng Hạ Hạ Phẩm nghịch ác chi nhân, tịnh thị túc nhân thành thục, cố cảm lâm chung ngộ thiện hữu, văn tiện tín nguyện. Thử sự vạn trung vô nhất, khởi khả kiểu hãnh, Tịnh Độ Hoặc Vấn xích thử tối tường. Kim nhân bất khả bất độc.
Vấn: Tây Phương khứ thử thập vạn ức độ, hà đắc tức sanh?
Đáp: Thập vạn ức độ, bất xuất ngã hiện tiền nhất niệm tâm tánh chi ngoại. Dĩ tâm tánh bổn vô ngoại cố, hựu trượng tự tâm chi Phật lực tiếp dẫn, hà nan tức sanh? Như kính trung chiếu sổ thập tằng sơn thủy, lâu các, tằng số uyển nhiên, thật vô viễn cận, nhất chiếu câu liễu, kiến vô tiên hậu.
“Tùng thị Tây Phương, quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc”, diệc như thị. “Kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp”, diệc như thị. “Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng, hiện tại kỳ tiền. Thị nhân chung thời tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ”, diệc như thị. Đương tri, tự tự giai Hải Ấn tam-muội, Đại Viên Kính Trí chi linh văn dã.
Vấn: Trì danh phán Hành Hạnh, tắc thị Trợ Hạnh, hà danh Chánh Hạnh?
Đáp: Y nhất tâm thuyết Tín Nguyện Hạnh, phi tiên hậu, phi định tam. Cái vô Nguyện Hạnh, bất danh Chân Tín. Vô Hạnh Tín, bất danh Chân Nguyện. Vô Tín Nguyện, bất danh Chân Hạnh.
Kim toàn do tín nguyện trì danh, cố Tín Nguyện Hạnh tam, thanh thanh viên cụ. Sở dĩ, danh “đa thiện căn, phước đức, nhân duyên”.
Quán Kinh “xưng Phật danh cố, niệm niệm trung trừ bát thập ức kiếp sanh tử chi tội”, thử chi vị dã. Nhược phước thiện bất đa, an năng trừ tội như thử chi đại.
Vấn: Lâm chung mãnh thiết, năng trừ đa tội, bình nhật chí tâm xưng danh, diệc trừ tội phủ?
Đáp: Như nhật xuất, quần ám tiêu. Xưng hồng danh, vạn tội diệt.
Vấn: Tán tâm xưng danh diệc trừ tội phủ?
Đáp: Danh hiệu công đức bất khả tư nghị, ninh bất trừ tội? Đản bất định vãng sanh, dĩ du du tán thiện, nan địch vô thỉ tích tội cố!
Đương tri tích tội, giả sử hữu thể tướng giả, tận hư không giới bất năng dung thọ. Tuy bách niên trú dạ, Di Đà thập vạn, nhất nhất thanh diệt bát thập ức kiếp sanh tử, nhiên sở diệt tội, như trảo thượng thổ. Vị diệt tội, như đại địa thổ.
Duy niệm chí nhất tâm bất loạn, tắc như kiện nhân đột vi nhi xuất, phi phục tam quân năng chế nhĩ. Nhiên xưng danh tiện vi thành Phật chủng tử, như kim cang chung bất khả hoại. Phật thế, nhất lão nhân cầu xuất gia, ngũ bách Thánh chúng giai vị “vô thiện căn”. Phật ngôn: “Thử nhân vô lượng kiếp tiền, vị hổ bức, thất thanh xưng nam-mô Phật. Kim thử thiện căn thành thục, trị ngã đắc đạo, phi Nhị Thừa đạo nhãn sở tri dã”. Do thử quán chi, Pháp Hoa minh “quá khứ Phật sở, tán loạn xưng danh, giai dĩ thành Phật”, khởi bất tín tai?
Phục nguyện truy tố trí ngu, ư thử giản dị trực tiệp, vô thượng viên đốn pháp môn, vật thị vi nan, nhi triếp sanh thoái ủy, vật thị vi dị, nhi mạn bất sách cần, vật thị vi thiển, nhi vọng trí miểu khinh, vật thị vi thâm, nhi phất cảm thừa nhậm.
Cái sở trì chi danh hiệu, chân thật bất khả tư nghị; năng trì chi tâm tánh, diệc chân thật bất khả tư nghị, trì nhất thanh, tắc nhất thanh bất khả tư nghị. Trì thập, bách, thiên, vạn, vô lượng, vô số thanh, thanh thanh giai bất khả tư nghị dã.
Thiện căn Bồ Đề của Thanh Văn, Duyên Giác ít ỏi, phước nghiệp của trời người là hữu lậu, nên phước đức ít ỏi, đều chẳng thể vãng sanh Tịnh Độ. Chỉ có tín nguyện, chấp trì danh hiệu thì mỗi một tiếng đều đầy đủ nhiều thiện căn, phước đức. Tâm tán loạn xưng danh thì phước thiện còn chẳng thể lường, huống là nhất tâm bất loạn ư!
Do vậy, khiến cho [Phật và hành giả tu Tịnh Độ] cảm ứng đạo giao, nét khắc trên ấn đã hiện, ấn [sáp] liền hoại. Phật Di Đà và Thánh chúng, chẳng tới mà tới, đích thân rủ lòng tiếp dẫn, tâm thức của hành nhân chẳng đi mà đi, gởi thể chất trong hoa sen báu.
“Thiện nam nữ”: Bất luận tại gia hay xuất gia, sang, hèn, già, trẻ, sáu nẻo, tứ sanh, chỉ nghe được danh hiệu Phật thì đã là thiện căn trong nhiều kiếp chín muồi. Kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác cũng đều gọi là “thiện” cả.
A Di Đà Phật là danh hiệu rộng lớn có đủ muôn đức. Dùng danh để vời đức, trọn chẳng còn sót gì. Vì thế, liền lấy chấp trì danh hiệu làm Chánh Hạnh, chẳng cần phải dính dáng những hạnh như quán tưởng, tham cứu v.v… Đơn giản, dễ dàng nhất, thẳng chóng nhất. Nghe rồi tin, tin rồi nguyện, bèn chịu chấp trì. Chứ chẳng tin, chẳng nguyện thì cũng giống như chẳng nghe; tuy tạo thành cái nhân xa, nhưng chẳng thể gọi là Văn Huệ.
Chấp trì là niệm niệm nhớ tới danh hiệu Phật, cho nên là Tư Huệ; nhưng có Sự Trì và Lý Trì.
Sự Trì là tin có A Di Đà Phật ở Tây Phương, nhưng chưa thấu đạt “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”, nhưng do quyết chí nguyện cầu vãng sanh, như con nhớ mẹ, không lúc nào tạm quên.
Lý Trì là tin A Di Đà Phật ở Tây Phương tâm ta sẵn đủ, là do tâm ta tạo, liền dùng hồng danh tâm ta sẵn đủ, tâm ta tạo ấy để làm cảnh hệ niệm khiến cho chẳng tạm quên vậy.
“Từ một ngày cho đến bảy ngày” là định thời hạn hòng tu tập thành tựu. Bậc lợi căn trong một ngày liền chẳng loạn. Độn căn thì bảy ngày mới chẳng loạn. Bậc trung căn thì hai, ba, bốn, năm, sáu ngày không chừng. Lại nữa, bậc lợi căn có thể bất loạn suốt bảy ngày. Bậc độn căn chỉ có thể bất loạn trong một ngày. Bậc trung căn thì sáu, năm, bốn, ba, hai ngày không chừng.
Nhất tâm cũng có hai thứ. Bất luận Sự Trì hay Lý Trì, trì đến mức khuất phục, trừ diệt phiền não, cho đến trừ hết Kiến Hoặc hay Tư Hoặc trước, đều là Sự nhất tâm. Bất luận là Sự Trì hay Lý Trì, trì đến mức tâm khai ngộ, thấy vị Phật nơi bổn tánh, đều là Lý nhất tâm. Sự nhất tâm chẳng bị Kiến Hoặc, Tư Hoặc nhiễu loạn, Lý nhất tâm chẳng bị nhị biên nhiễu loạn. Đấy chính là Tu Huệ vậy.
Chẳng bị Kiến Hoặc và Tư Hoặc làm loạn, nên cảm được thân biến hóa của Phật và các vị Thánh hiện tiền. Do tâm chẳng còn dấy lên ý niệm điên đảo thuộc về ba cõi trong thế giới Sa Bà, nên người ấy sẽ sanh vào hai cõi Đồng Cư và Phương Tiện trong thế giới Cực Lạc.
Chẳng bị Nhị Biên nhiễu loạn nên cảm được thân thụ dụng của Phật và các vị Thánh hiện tiền, tâm chẳng còn khởi lên hai món kiến giải điên đảo sanh tử và Niết Bàn nên sanh về hai cõi Thật Báo và Tịch Quang của thế giới Cực Lạc.
Hãy nên biết rằng: Chấp trì danh hiệu tuy đơn giản, dễ dàng, thẳng chóng, mà lại viên đốn tột bậc, bởi mỗi niệm chính là Phật, chẳng nhọc công quán tưởng, chẳng cần phải tham cứu, mà ngay trong khi niệm Phật ấy bèn viên minh, chẳng thừa, chẳng thiếu.
Bậc thượng thượng căn chẳng thể vượt ngoài cửa ải này, mà kẻ hạ hạ căn cũng có thể đạt đến cảnh giới ấy, [do công phu tu tập của mỗi người mà] đối với mỗi tầng cấp công phu cảm được đức Phật và cõi nước sẽ sanh về lại càng thù thắng hơn, cũng chẳng nhất loạt giống nhau13Chúng tôi dịch câu này theo cách diễn giải của pháp sư Viên Anh trong A Di Đà Kinh Yếu Giải Giảng Ký. . Có thể nói là [pháp môn Tịnh Độ] theo chiều ngang bao trùm tám giáo, theo chiều dọc thấu triệt năm thời. Do vậy, [đức Phật] vì tâm bi triệt để, chẳng ai hỏi mà tự nói, lại còn khen ngợi sâu xa pháp này khó tin.
Hỏi: Quán Kinh chuyên giảng về cách quán tưởng, sao [ở đây] lại nói “chẳng phải nhọc công quán tưởng?”
Đáp: Nghĩa này vốn lấy từ Quán Kinh. Kinh ấy do thấy tâm lực của phàm phu chẳng thể kham nổi phép Quán thù thắng nên trong phép Quán thứ mười ba đã dạy riêng cách quán tượng Phật thấp kém14Gọi là “quán tượng thấp kém” (quán liệt tượng) vì tượng dù có to cách mấy vẫn chẳng thể sánh bằng chân thân của Phật. Hơn nữa, trong cách quán này, chỉ dạy quán thân Phật cao một trượng sáu, tức là quán Ứng Thân, thua xa vẻ đẹp thù thắng của Báo Thân nên gọi là “liệt tượng” (tượng kém hèn). Hơn nữa, tượng trong thế gian dù đẹp cách mấy vẫn không có cách nào diễn tả một phần vẻ đẹp thù thắng của ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp phụ (tùy hình hảo) nơi Liệt Ứng Thân nên gọi là “kém hèn”. . Nhưng kẻ chướng nặng vẫn chẳng thể niệm đức Phật ấy [bằng phương pháp Quán Tưởng Niệm Phật] nên trong phép Quán thứ mười sáu, mở rộng môn xưng danh. Do trong đời Mạt, kẻ chướng nặng đông đảo mà kinh này chuyên chú nơi phép Quán thứ mười sáu. Hãy nên biết rằng: Căn tánh của con người tuy chậm lụt, nhưng thân tướng tượng Phật cao trượng sáu hoặc tám thước và danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật chưa bao giờ chẳng phải là “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Vì thế, người quán tượng Phật thấp kém thì chẳng nhọc sức tu tập pháp quán tưởng thù thắng, còn người xưng danh thì chẳng cần phải mất công quán tưởng.
Hỏi: Các vị Tổ Thiên Kỳ và Độc Phong đều chủ trương tham cứu câu “người niệm Phật là ai?”, sao lại bảo là chẳng cần phải tham cứu?
Đáp: Nghĩa này phát xuất từ ngài Thiên Kỳ và các vị Tổ khác. Các Tổ đời trước do thấy người niệm Phật chẳng khế hợp tâm bi triệt để của Phật Thích Ca, nên ở bên cạnh chẳng đành lòng, phải vặn hỏi ngay câu ấy để mạnh mẽ đánh thức [người niệm Phật], chứ đâu phải chỉ là muốn làm cho họ chấm dứt đêm dài bất giác, sáng suốt trở lại? Bọn chúng ta cho đến nay vẫn chẳng chịu chết lòng niệm Phật, cứ khổ sở muốn cầm hòn ngói gõ cửa ấy để chọi cha mẹ ruột đang ở trong nhà, như vậy là đã trở thành kẻ ác nghịch đối với chư Tổ, chứ có phải là kẻ vâng thuận đâu!
Lại hỏi cao hơn nữa: Điều này đối với người chịu dốc lòng niệm Phật thì được, chứ đối với người chưa chịu thì làm sao [tâm người ấy] tương ứng [với tâm Phật] cho được?
Đáp: Ôi chao! Chính là vì kẻ chưa chịu [dốc lòng niệm Phật, mà nói những lời ấy]. Do vậy, tôi [nói những lời ấy] nhằm làm cho các ông chịu bằng lòng [niệm Phật] hòng được tương ứng. Cái tâm chánh tín của các ông chưa sanh khởi, nó giống như miếng da trâu tươi, không thể xếp hay bẻ gập lại được. Hãy nên biết rằng: Người có mắt thì lẽ nào lại thắp đèn dưới ánh mặt trời? Còn kẻ không có mắt, cũng chẳng phải khổ sở tìm kiếm đèn đuốc giữa ban ngày! Đại Thế Chí Pháp Vương Tử nói: “Chẳng cần đến phương tiện nào khác mà tâm tự được khai ngộ”. Câu nói này là một đống lửa to trong Nhất Hạnh tam-muội, có ai dám chạm vào mà chẳng bị nó đốt ư?
Hỏi: Lâm chung Phật hiện, há bảo đảm chẳng phải là ma ư?
Đáp: Người tu tâm chẳng quán Phật mà Phật đột nhiên hiện, vốn không phải là điều người ấy mong mỏi, nên gọi là ma sự. Niệm Phật thấy Phật, tức là tương ứng, huống chi lâm chung chẳng phải là lúc ma đến, cần gì phải nghi ngờ, lo lắng nữa?
Hỏi: Bảy ngày chẳng loạn là lúc bình thường hay lúc lâm chung?
Đáp: Lúc bình thường.
Hỏi: Sau khi đã đắc bảy ngày chẳng loạn, lại dấy phiền não, tạo nghiệp thì cũng được vãng sanh ư?
Đáp: Nếu là người thật sự đạt được nhất tâm bất loạn thì không còn có chuyện dấy lên phiền não, tạo nghiệp nữa!
Hỏi: Mười niệm trong kinh Đại Bổn và một niệm trong luận Bảo Vương là nói về lúc bình thường hay lúc lâm chung?
Đáp: “Mười niệm” là nói chung cả hai thời điểm ấy. Mười niệm vào lúc sáng sớm thuộc lúc bình thường. Mười niệm được vãng sanh [trong lời nguyện của A Di Đà Phật trong kinh Vô Lượng Thọ] giống như “mười niệm xưng danh” [được nói trong chương Hạ Phẩm Hạ Sanh] của Quán Kinh, đều thuộc về lúc lâm chung. Còn một niệm [như trong luận Bảo Vương nói] thì thuộc về lúc lâm chung.
Hỏi: Mười niệm và một niệm đều được vãng sanh thì cần gì phải bảy ngày [nhất tâm bất loạn]?
Đáp: Nếu lúc bình thường không có công phu bảy ngày [nhất tâm bất loạn] thì làm sao có mười niệm hay một niệm lúc lâm chung được? Dẫu là kẻ nghịch ác thuộc Hạ Hạ Phẩm, đều là do cái nhân trong đời trước đã chín muồi nên cảm vời khi lâm chung gặp thiện hữu, vừa nghe nói [về pháp môn Tịnh Độ] liền tín nguyện. Chuyện này trong một vạn trường hợp chẳng có được một, há nên cầu may ư? Sách Tịnh Độ Hoặc Vấn bài xích quan điểm cầu may này tường tận nhất, người đời nay chẳng thể không đọc!
Hỏi: Tây Phương cách đây mười vạn ức cõi, làm sao sanh ngay sang ấy được?
Đáp: Mười vạn ức cõi chẳng ngoài một niệm tâm tánh hiện tiền của ta, bởi tâm tánh vốn chẳng ở bên ngoài. Hơn nữa, cậy vào Phật lực từ trong tâm tánh tiếp dẫn, khó gì mà chẳng sanh ngay [sang cõi Cực Lạc]? Giống như trong gương chiếu mấy chục tầng núi, sông, lầu gác, tầng nào tầng nấy rành rành, quả thật chẳng có gần hay xa, hễ vừa soi liền trọn đủ, chẳng thấy có trước hay sau.
“Cách đây mười vạn ức cõi Phật có thế giới tên là Cực Lạc”, cũng giống như vậy. “Cõi ấy có Phật, hiệu A Di Đà nay hiện đang thuyết pháp” cũng giống như vậy. “Khi ấy người lâm chung, A Di Đà Phật và các Thánh chúng hiện ra trước mắt. Người ấy khi lâm chung, tâm chẳng điên đảo, liền được sanh về cõi nước Cực Lạc của A Di Đà Phật”, cũng giống như vậy. Hãy nên biết rằng từng chữ [trong kinh A Di Đà] đều là Hải Ấn tam-muội, là kinh văn thiêng liêng giảng về Đại Viên Kính Trí.
Hỏi: Trì danh được phán định thuộc về Hành Hạnh, thì nó là Trợ Hạnh, chứ sao lại bảo là Chánh Hạnh?
Đáp: Dựa theo nhất tâm để nói về Tín - Nguyện - Hạnh thì không có trước sau, không nhất định phải tách ra thành ba thứ. Bởi lẽ, không có Nguyện và Hạnh thì chẳng gọi là Chân Tín. Không có Hạnh và Tín thì chẳng gọi là Chân Nguyện. Không có Tín và Nguyện thì chẳng gọi là Chân Hạnh.
Nay hoàn toàn do tín nguyện mà trì danh nên trong mỗi tiếng niệm Phật đều đầy đủ trọn vẹn ba món Tín - Nguyện - Hạnh. Do vậy, gọi là “nhiều thiện căn, phước đức, nhân duyên”.
Quán Kinh bảo “do xưng niệm danh hiệu Phật nên trong mỗi niệm trừ được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử” chính là nói về điều này. Nếu phước thiện chẳng nhiều thì làm sao trừ được tội to lớn như thế?
Hỏi: Khi lâm chung mạnh mẽ, thiết tha, có thể trừ được nhiều tội, chứ lúc bình thường chí tâm xưng danh thì cũng trừ được tội ư?
Đáp: Như mặt trời mọc, mọi tối tăm đều tiêu. Xưng hồng danh, vạn tội diệt.
Hỏi: Tâm tán loạn xưng danh cũng trừ được tội ư?
Đáp: Công đức xưng danh chẳng thể nghĩ bàn, lẽ nào chẳng trừ được tội? Nhưng không nhất định được vãng sanh, bởi lẽ điều lành hờ hững tán loạn sẽ khó thể chống lại tội lỗi tích tập từ vô thỉ.
Hãy nên biết rằng tội lỗi đã tích tập nếu có thể tướng thì cùng tận cõi hư không chẳng thể chứa đựng được. Dẫu suốt cả trăm năm, mỗi ngày đêm niệm Di Đà mười vạn tiếng, mỗi một tiếng diệt tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử, nhưng tội đã diệt giống như đất đọng trên móng tay, còn tội chưa diệt giống như đất trong đại địa.
Chỉ trừ niệm Phật đến nhất tâm bất loạn sẽ giống như người mạnh mẽ đột phá vòng vây xông ra, ba quân chẳng còn có thể khống chế người ấy; nhưng xưng danh sẽ là hạt giống thành Phật, như kim cang trọn chẳng thể hủy hoại. Trong thời đức Phật, một cụ già xin xuất gia, năm trăm vị Thánh nhân đều nói cụ không có thiện căn. Đức Phật dạy: “Trong vô lượng kiếp trước, người này bị hổ đuổi, lạc giọng xưng nam-mô Phật, đến nay thiện căn ấy chín muồi, gặp ta, đắc đạo, đạo nhãn của Nhị Thừa chẳng thể biết được!” Do đây có thể thấy rằng kinh Pháp Hoa nói người trong quá khứ, ở chỗ Phật, tán loạn xưng danh đều đã thành Phật, há chẳng tin ư?
Kính xin kẻ áo thâm, người áo trắng, kẻ trí, người ngu, đối với pháp môn đơn giản, dễ dàng, thẳng chóng, vô thượng viên đốn này, đừng nghĩ là khó rồi liền sanh lòng thoái thác, đừng thấy là dễ dàng rồi chần chừ chẳng siêng gắng, đừng ngỡ là nông cạn để rồi đến nỗi lầm lạc coi thường, đừng nghĩ pháp này quá sâu đến nỗi chẳng dám đảm đương.
Bởi lẽ, danh hiệu được trì chân thật chẳng thể nghĩ bàn, tâm tánh trì niệm danh hiệu ấy cũng chân thật chẳng thể nghĩ bàn. Trì một tiếng thì một tiếng chẳng thể nghĩ bàn, trì mười, trăm, ngàn, vạn, vô lượng vô số tiếng thì mỗi tiếng đều chẳng thể nghĩ bàn.
Phục thứ, thị lợi ước mạng chung thời, tâm bất điên đảo nhi ngôn, cái uế độ tự lực tu hành sanh tử quan đầu, tối nan đắc lực.
Vô luận ngoan tu cuồng huệ, ma la vô công, tức ngộ môn thâm viễn, thao lý tiềm xác chi nhân, thảng phân hào tập khí vị trừ, vị miễn tùy cường thiên trụy.
Vĩnh Minh tổ sư, sở vị “thập nhân cửu tha lộ. Ấm cảnh nhược hiện tiền, miết nhĩ tùy tha khứ”. Thử thành khả hàn tâm giả dã. Sơ Quả muội ư xuất thai, Bồ Tát hôn ư cách ấm. Giả lý khởi dung cưỡng tác chủ tể, kiểu hãnh, man han? Duy hữu tín nguyện trì danh, trượng tha lực cố, Phật từ bi nguyện, định bất đường quyên. Di Đà Thánh chúng, hiện tiền ủy đạo, cố đắc vô đảo, tự tại vãng sanh.
Phật kiến chúng sanh lâm chung đảo loạn chi khổ, đặc vị bảo nhậm thử sự, sở dĩ, ân cần tái khuyến phát nguyện, dĩ nguyện năng đạo hạnh cố dã.
Vấn: Phật ký “tâm tác, tâm thị”, hà bất cánh ngôn tự Phật, nhi tất dĩ tha Phật vi thắng? Hà dã?
Đáp: Thử chi pháp môn, toàn tại liễu tha tức tự. Nhược húy ngôn tha Phật, tắc thị Tha Kiến vị vong. Nhược thiên trọng tự Phật, khước thành Ngã Kiến điên đảo.
Hựu Tất Đàn tứ ích, hậu tam ích, sự bất cô khởi. Thảng bất tùng thế giới thâm phát khánh tín, tắc Hân Yếm nhị ích thượng bất năng sanh. Hà huống ngộ nhập lý Phật!
Duy tức Sự Trì đạt Lý Trì. Sở dĩ Di Đà Thánh chúng hiện tiền, tức thị bổn tánh minh hiển. Vãng sanh bỉ độ, kiến Phật, văn pháp, tức thị thành tựu huệ thân, bất do tha ngộ.
Pháp môn thâm diệu, phá tận nhất thiết hý luận, trảm tận nhất thiết ý kiến. Duy Mã Minh, Long Thọ, Trí Giả, Vĩnh Minh chi lưu, triệt để đảm hà đắc khứ. Kỳ dư thế trí biện thông, thông Nho, Thiền khách, tận tư độ lượng, dũ thôi dũ viễn. Hựu bất nhược ngu phu phụ lão thật niệm Phật giả, vi năng tiềm thông Phật trí, ám hợp đạo diệu dã.
Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn, phân minh dĩ Phật nhãn, Phật âm, ấn định thử sự, khởi cảm vi kháng, bất thiện thuận nhập dã tai? Nhị Chánh Tông Phần cánh.
Lại nữa, điều lợi này luận theo lúc lâm chung, tâm chẳng điên đảo; bởi lẽ, trong uế độ, đối với cửa ải lâm chung thì tự lực tu hành sẽ khó đủ sức để vượt qua nhất.
Những kẻ tu hành ương bướng, trí huệ ngông cuồng, buồn tủi không có kết quả thì đừng nói làm gì! Ngay cả những người ngộ giải sâu xa, tu tập cẩn thận, tinh nghiêm, mà nếu còn chút tơ tóc tập khí chưa trừ thì vẫn chưa tránh khỏi tình trạng “[lúc lâm chung], nghiệp nào mạnh sẽ lôi thần thức của người ấy đi trước” khiến cho người ấy bị đọa lạc.
Tổ sư Vĩnh Minh nói: “Mười người, chín chần chừ. Ấm cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo nó”. [Nghĩ đến] điều này đúng là lạnh buốt cõi lòng vậy. Sơ Quả mê muội khi ra khỏi thai, Bồ Tát hôn trược lúc chuyển từ thân Ngũ Ấm này sang thân Ngũ Ấm khác, trong khi ấy, há nó có dung cho mình gắng gượng làm chủ tể mà còn lơ mơ mong được may mắn hay sao?
Chỉ có tín nguyện trì danh là do cậy vào tha lực và thệ nguyện từ bi của Phật, nhất định chẳng luống uổng. Phật Di Đà và Thánh chúng hiện đến trước mặt an ủi, hướng dẫn, nên tâm không điên đảo, tự tại vãng sanh. Phật thấy chúng sanh chịu khổ vì điên đảo tán loạn khi lâm chung, nhằm đặc biệt đảm bảo cho chúng sanh chuyện [vãng sanh] này, nên mới một lần nữa ân cần khuyên nhủ hãy phát nguyện, bởi lẽ, nguyện có thể dẫn đường cho hạnh vậy.
Hỏi: Phật đã là “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”, thì sao chẳng hoàn toàn nói về tự Phật (vị Phật của chính mình) mà cứ đề cao tha Phật (vị Phật khác) là thù thắng? Vì cớ sao thế?
Đáp: Pháp môn này hoàn toàn ở chỗ hiểu rõ Tha chính là Tự. Nếu kiêng không nói tới vị Phật nào khác tức là chưa quên Tha Kiến (cái thấy có người khác ngoài ta ra). Nếu thiên trọng tự Phật, sẽ trở thành Ngã Kiến điên đảo.
Lại nữa, trong bốn món lợi ích Tất Đàn, ba thứ lợi ích sau chẳng thể tự nó khởi lên được. Nếu chẳng từ [môn Tất Đàn thứ nhất là] Thế Giới [Tất Đàn] phát khởi sâu xa lòng vui mừng, tin tưởng thì hai thứ lợi ích là ưa thích cõi Cực Lạc và chán nhàm cõi Sa Bà sẽ chẳng thể sanh được, huống gì là ngộ nhập lý Phật?
Chỉ do Sự Trì mà đạt đến Lý Trì, cho nên Phật Di Đà và Thánh chúng hiện tiền chính là do bổn tánh đã hiện rõ ra. Sanh về cõi kia, thấy Phật, nghe pháp chính là thành tựu huệ thân (cái thân kết tinh bằng trí huệ), chứ chẳng phải do cái gì khác mà ngộ [được huệ thân ấy].
Pháp môn sâu mầu, phá sạch hết thảy hý luận, chặt sạch hết thảy ý kiến. Chỉ có những vị như Mã Minh, Long Thọ, Trí Giả, Vĩnh Minh mới triệt để gánh vác pháp này được. Còn những kẻ Thế Trí Biện Thông khác, những kẻ thông hiểu cả Nho lẫn Thiền, tận hết sức suy lường, càng suy nghĩ càng xa cách hơn, hóa ra chẳng bằng những ông những bà ngu muội, thật thà niệm Phật, mà có thể ngầm thông Phật trí, thầm hợp đạo mầu.
“Ta thấy điều lợi ấy nên nói lời này”, dùng Phật nhãn, Phật âm để nói ấn định rành rành chuyện này, há dám trái nghịch, chống đối, chẳng khéo thuận vâng theo hòng chứng nhập ư?
- Nhất, hoành siêu tam giới, bất sĩ đoạn Hoặc.
- Nhị, tức Tây Phương hoành cụ tứ độ, phi do tiệm chứng.
- Tam, đản trì danh hiệu, bất giả Thiền Quán chư phương tiện.
- Tứ, nhất thất vi kỳ, bất tạ đa kiếp, đa sanh, đa niên nguyệt.
- Ngũ, trì nhất Phật danh, tức vị chư Phật hộ niệm, bất dị trì nhất thiết Phật danh.
Thử giai đạo sư đại nguyện hạnh chi sở thành tựu. Cố viết “A Di Đà Phật bất khả tư nghị công đức chi lợi”.
Hựu, hành nhân tín nguyện trì danh, toàn nhiếp Phật công đức thành tự công đức.
Cố diệc viết “A Di Đà Phật bất khả tư nghị công đức chi lợi”. Hạ hựu viết: “Chư Phật bất khả tư nghị công đức, ngã bất khả tư nghị công đức”, thị chư Phật, Thích Ca giai dĩ A Di vi Tự dã.
A Súc Bệ, thử vân Vô Động. Phật hữu vô lượng đức, ưng hữu vô lượng danh. Tùy cơ nhi lập, hoặc thủ nhân, hoặc thủ quả, hoặc Tánh, hoặc Tướng, hoặc hạnh nguyện đẳng. Tuy cử nhất ngung, nhưng cụ Tứ Tất. Tùy nhất nhất danh, hiển sở thuyên đức. Kiếp thọ thuyết chi, bất năng tất dã.
Đông phương hư không bất khả tận, thế giới diệc bất khả tận. Thế giới bất khả tận, trụ thế chư phật diệc bất khả tận. Lược cử hằng hà sa nhĩ.
Thử đẳng chư Phật, các xuất quảng trường thiệt, khuyến tín thử kinh, nhi chúng sanh do bất sanh tín, ngoan minh cực hỹ. Thường nhân tam thế bất vọng ngữ, thiệt năng chí tỵ. Tạng Quả Đầu Phật, tam đại tăng-kỳ kiếp bất vọng ngữ, thiệt bạc, quảng trường khả phú diện. Kim chứng Đại Thừa Tịnh Độ diệu môn, sở dĩ biến phú tam thiên, biểu Lý thành xứng Chân, Sự thật phi mậu dã.
Tiêu xuất kinh đề, lưu thông chi bổn. Thập sư thuận thử phương hiếu lược, dịch kim đề, xảo hợp trì danh diệu hạnh. Trang sư dịch vân Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh. Văn hữu tường lược, nghĩa vô tăng giảm.
1. Một là vượt thoát tam giới theo chiều ngang, chẳng đợi phải đoạn Hoặc.
2. Hai là sanh về Tây Phương liền trọn đủ bốn cõi, chẳng phải do chứng từ từ.
3. Ba, chỉ trì danh hiệu, chẳng cần phải dùng tới các phương tiện Thiền, Quán.
4. Bốn là lấy bảy ngày làm hạn, chẳng cần đến nhiều kiếp, nhiều đời, nhiều năm tháng.
5. Năm là trì danh hiệu một vị Phật liền được chư Phật hộ niệm, chẳng khác gì trì danh hiệu của hết thảy chư Phật.
Những điều này đều do đại nguyện hạnh của đấng Đạo Sư mà thành tựu. Vì thế nói “A Di Đà Phật lợi ích công đức chẳng thể nghĩ bàn”.
Lại nữa, hành nhân tín nguyện trì danh hoàn toàn thâu nhiếp công đức của Phật thành công đức của chính mình. Vì thế, cũng nói: “Công đức lợi ích của A Di Đà Phật chẳng thể nghĩ bàn”.
Trong đoạn dưới, [kinh văn] lại nói: “Công đức chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật”, “công đức chẳng thể nghĩ bàn của ta”, tức là chư Phật và Phật Thích Ca đều lấy A Di Đà Phật làm Tự.
A Súc Bệ, cõi này dịch là Vô Động, Phật có vô lượng đức, đương nhiên có vô lượng danh hiệu. Tùy theo căn cơ [của chúng sanh hóa độ] mà lập một danh hiệu, hoặc dùng nhân, hoặc dùng quả, hoặc Tánh, hoặc Tướng, hoặc hạnh nguyện, v.v... [để đặt tên]. Tuy nêu lên một khía cạnh, nhưng mỗi danh hiệu đều đầy đủ bốn món Tất Đàn. Đối với mỗi danh hiệu, muốn giảng rõ tánh đức được phô diễn bởi danh hiệu ấy thì dù có sống lâu cả kiếp để diễn nói cũng chẳng thể nào nói trọn hết được.
Phương Đông hư không chẳng thể cùng tận, nên thế giới cũng chẳng thể cùng tận. Do thế giới chẳng thể cùng tận nên chư Phật trụ thế cũng chẳng thể cùng tận, chỉ nêu đại lược là “nhiều như số cát sông Hằng” mà thôi.
Các vị Phật vị nào cũng hiện tướng lưỡi rộng dài, khuyên nên tin kinh này, mà chúng sanh vẫn chẳng sanh lòng tin, ương bướng, tối tăm đến tột bậc vậy! Người thường mà ba đời không nói dối thì lưỡi có thể chạm được mũi. Quả vị Phật trong Tạng Giáo ba đại a-tăng-kỳ kiếp không nói dối, lưỡi mỏng, rộng dài có thể che mặt. Nay nhằm chứng thực pháp môn Tịnh Độ mầu nhiệm, cho nên [chư Phật thè lưỡi] che khắp tam thiên, nhằm biểu thị “Lý quả thật xứng hợp chân thật, Sự là đúng với sự thật, chẳng sai lầm”.
Nêu ra tựa đề kinh nhằm làm cái gốc cho việc lưu thông. Ngài La Thập thuận theo thói thích đơn giản của phương này, mà dịch tựa đề kinh như [đề kinh đang được sử dụng] trong hiện tại, phù hợp khéo léo với diệu hạnh trì danh. Ngài Huyền Trang dịch [tựa đề kinh này] là Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh. Lời văn tuy có cặn kẽ hay đại lược khác nhau, nhưng ý nghĩa chẳng bị tăng hay giảm.
舍利弗.西方世界.有無量壽佛.無量相佛.無量幢佛.大光 佛.大明佛.寶相佛.淨光佛.如是等.恆河沙數諸佛.各於其國. 出廣長舌相.遍覆三千大千世界.說誠實言.汝等眾生.當信是.稱 讚不可思議功德.一切諸佛所護念經.
舍利弗.北方世界.有燄肩佛.最勝音佛.難沮佛.日生佛. 網明佛.如是等.恆河沙數諸佛.各於其國.出廣長舌相.遍覆三千 大千世界.說誠實言.汝等眾生.當信是.稱讚不可思議功德.一切 諸佛所護念經.
舍利弗, 下方世界有师子佛, 名闻佛, 名光佛, 达摩佛, 法幢佛, 持法佛, 如是等恒河沙数诸佛, 各于其国, 出广长舌相, 遍覆三千大千世界, 说诚实言: 汝等众生, 当信是称赞不可思议功德一切诸佛所护念经.
舍利弗, 上方世界有梵音佛, 宿王佛, 香上佛, 香光佛, 大焰肩佛, 杂色宝华严身佛, 娑罗树王佛, 宝华德佛, 见一切义佛, 如须弥山佛, 如是等恒河沙数诸佛, 各于其国, 出广长舌相, 遍覆三千大千世界, 说诚实言: 汝等众生, 当信是称赞不可思议功德一切诸佛所护念经.
Xá Lợi Phất! Tây Phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
Xá Lợi Phất! Bắc phương thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Võng Minh Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
Xá Lợi Phất! Hạ phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
Xá Lợi Phất! Thượng phương thế giới hữu Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thụ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
Xá Lợi Phất! Trong các thế giới ở phương Tây có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, các đức Phật nhiều như số cát sông Hằng như thế đó, mỗi vị ở trong nước mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thật: “Chúng sanh các ngươi hãy nên tin kinh Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này”.
Xá Lợi Phất! Trong các thế giới ở phương Bắc có Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Võng Minh Phật, các đức Phật nhiều như số cát sông Hằng như thế đó, mỗi vị ở trong nước mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thật: “Chúng sanh các ngươi hãy nên tin kinh Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này”.
Xá Lợi Phất! Trong các thế giới ở phương dưới có Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, các đức Phật nhiều như số cát sông Hằng như thế đó, mỗi vị ở trong nước mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thật: “Chúng sanh các ngươi hãy nên tin kinh Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này”.
Xá Lợi Phất! Trong các thế giới ở phương trên có Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thụ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật, các đức Phật nhiều như số cát sông Hằng như thế đó, mỗi vị ở trong nước mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thật: “Chúng sanh các ngươi hãy nên tin kinh Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này”.
(丁) 二徵释经题
Thử giới thủy luân, kim luân, phong luân chi hạ, phục hữu hạ giới Phi Phi Tưởng Thiên đẳng, nãi chí trùng trùng vô tận dã. Đạt Ma thử vân Pháp. Thử giới Phi Phi Tưởng thiên chi thượng, phục hữu thượng giới phong luân, kim luân, cập tam giới đẳng, trùng trùng vô tận dã.
Vấn: Chư phương tất hữu Tịnh Độ, hà thiên tán Tây Phương?
Đáp: Thử diệc phi thiện vấn. Giả sử tán A Súc Phật quốc, nhữ hựu nghi thiên Đông phương, triển chuyển hý luận!
Vấn: Hà bất biến duyên pháp giới?
Đáp: Hữu tam nghĩa, linh sơ cơ dị tiêu tâm cố, A Di bổn nguyện thắng cố, Phật dữ thử độ chúng sanh thiên hữu duyên cố. Cái Phật độ sanh, sanh thọ hóa, kỳ gian nan dị, thiển thâm, tổng tại ư duyên. Duyên chi sở tại, ân đức hoằng thâm, chủng chủng giáo khải, năng linh hoan hỷ tín nhập, năng linh xúc động túc chủng, năng linh ma chướng nan giá, năng linh thể tánh khai phát.
Chư Phật bổn tùng Pháp Thân thùy tích, cố kết duyên chủng. Nhược thế, xuất thế, tất bất khả tư nghị. Tôn long ư giáo thừa, cử dương ư hải hội, thấm nhập ư khổ hải, từ khế ư Tịch Quang. Sở dĩ vạn đức khâm thừa, quần linh củng cực.
Đương tri Phật chủng tùng duyên khởi, duyên tức pháp giới, nhất niệm, nhất thiết niệm, nhất sanh, nhất thiết sanh, nhất hương, nhất hoa, nhất thanh, nhất sắc, nãi chí thọ sám, thọ ký, ma đảnh, thùy thủ. Thập phương tam thế, mạc bất biến dung.
Cố thử Tăng Thượng Duyên nhân, danh “pháp giới duyên khởi”. Thử chánh sở vị “biến duyên pháp giới” giả dã. Thiển vị nhân, tiện khả quyết chí chuyên cầu, thâm vị nhân, diệc bất tất xả Tây Phương, nhi biệt cầu Hoa Tạng. Nhược vị Tây Phương thị Quyền, Hoa Tạng thị Thật, Tây Phương tiểu, Hoa Tạng đại giả, toàn đọa chúng sanh biến kế chấp tình, dĩ bất đạt Quyền Thật nhất thể, Đại Tiểu vô tánh cố dã.
Phía dưới thủy luân, kim luân và phong luân15Theo luận Câu Xá, tầng thấp nhất của một thế giới gọi là Phong Luân (Vāyu mandala), tức là một tầng không khí. Phía dưới tầng Phong Luân ấy gọi là Không Luân (Ākāśa-mandala, tức hư không). Phong Luân dầy mười sáu ức do-tuần, kiên cố như kim cang. Trên Phong Luân có Thủy Luân (Jala-mandala) gồm toàn nước, dầy tám ức do tuần. Trên Thủy Luân là Kim Luân (Kāñcana-mandala), dầy ba ức hai vạn do-tuần, do chất kim cang kết thành hình tròn xoe như bánh xe. Phía trên Kim Luân là chín rặng núi lần lượt vây quanh nhau, gần như những vòng tròn đồng tâm, tính từ trong ra ngoài là Tu Di (Sumeru), Du Càn Đà La (Yugandhara), Y Sa Đà La (Isadhara), Khư Đề La (Khadiraka), Tô Đạt Lê Xá Na (Sudarśana), An Thấp Phược Kiệt Noa (Aśvakarna), Tỳ Na Đà La (Vinadhara), Ni Dân Đà La (Nimindhara), Chước Ca La (Cakravāda, Thiết Vy sơn) và tám cái biển lớn (tám cái biển chứa toàn nước thơm, nên gọi là Hương Thủy Hải. Mỗi biển nằm giữa các rặng núi, từ ngoài vào trong có chín vòng núi nên có tám biển Hương Thủy), vây quanh đại địa. Tầng này gọi là Địa Luân (Prthivī-mandala). của thế giới này lại có các cõi trời như Phi Phi Tưởng v.v... của thế giới ở phương dưới, cho đến trùng trùng vô tận. Đạt Ma được cõi này dịch là Pháp. Trên trời Phi Phi Tưởng của cõi này, lại có phong luân, kim luân và tam giới, v.v... của cõi trên, trùng trùng vô tận.
Hỏi: Trong các phương ắt có Tịnh Độ, cớ gì phải riêng khen ngợi Tây Phương?
Đáp: Đây cũng chẳng phải là lời hỏi đúng lý! Giả sử khen ngợi cõi A Súc Phật thì ông lại nghi vì sao riêng khen ngợi Đông phương? Quẩn quanh đùa bỡn như thế đó!
Hỏi: Sao không nghĩ niệm trọn khắp pháp giới?
Đáp: Là do có ba nghĩa: Nhằm làm cho hàng sơ cơ dễ biết chỗ để chú tâm, do A Di Đà Phật có bổn nguyện thù thắng, do Phật đặc biệt có duyên với chúng sanh cõi này. Ấy là vì Phật hóa độ chúng sanh, chúng sanh tiếp nhận sự giáo hóa, trong ấy có [tình trạng] khó - dễ, cạn - sâu, nói chung là do duyên. Duyên đã có, ân đức rộng sâu, đủ mọi cách dạy bảo, khơi gợi thì sẽ có thể làm cho [chúng sanh] vui vẻ tin tưởng, chứng nhập, có thể dấy động chủng tử từ trong quá khứ, có thể làm cho ma khó thể gây chướng ngại, ngăn trở, có thể làm cho thể tánh khai phát.
Chư Phật vốn từ Pháp Thân mà thị hiện hình tích, tạo duyên sâu chắc với chúng sanh. Dù là [so với] pháp thế gian hay xuất thế gian, [pháp môn này] luôn luôn là chẳng thể nghĩ bàn, nên nó được tôn trọng nhất trong các giáo pháp và tam thừa Phật pháp, được tuyên dương trong các hội [giảng kinh rộng lớn như] biển cả [của chư Phật], thấm sâu trong biển khổ, từ bi khế hợp với Tịch Quang. Do vậy, các bậc vạn đức (chư Phật) đều kính trọng, tuân giữ, các sanh linh đều ngưỡng mộ tuân hành đến tột bậc.
Hãy nên biết rằng: Phật chủng (hạt giống thành Phật) từ duyên mà khởi, duyên chính là pháp giới. Niệm một tức là niệm hết thảy, sanh về một là sanh về hết thảy, một hương, một hoa, một tiếng, một sắc, cho đến chấp nhận [kẻ có tội đối trước Phật] sám hối, thọ ký, xoa đầu, duỗi tay, mười phương ba đời không gì chẳng dung hội trọn khắp.
Vì thế, tăng thượng duyên nhân gọi là “pháp giới duyên khởi”. Đây chính là “duyên trọn khắp pháp giới” vậy. Người thuộc địa vị cạn sẽ quyết chí chuyên cầu, mà người ở địa vị sâu cũng chẳng cần phải bỏ Tây Phương để riêng cầu Hoa Tạng. Nếu bảo Tây Phương là Quyền, Hoa Tạng là Thật, Tây Phương là Tiểu Thừa, Hoa Tạng là Đại Thừa, tức là hoàn toàn rơi vào tình thức Biến Kế Chấp của chúng sanh, bởi chẳng thấu hiểu Quyền và Thật cùng một Thể, Tiểu Thừa và Đại Thừa chẳng có tánh vậy.
Vấn: Đản văn chư Phật danh, nhi vị trì kinh, diệc đắc hộ niệm bất thoái da?
Đáp: Thử nghĩa hữu cục, hữu thông. Chiêm Sát vị: “Tạp loạn cấu tâm, tuy tụng ngã danh, nhi bất vi văn, dĩ bất năng sanh quyết định tín giải, đản hoạch thế gian thiện báo, bất đắc quảng đại thâm diệu lợi ích.
Nhược đáo Nhất Hạnh tam-muội, tắc thành quảng đại vi diệu hạnh tâm, danh đắc Tương Tự Vô Sanh Pháp Nhẫn, nãi vi đắc văn thập phương Phật danh”. Thử diệc ưng nhĩ. Cố tu văn dĩ chấp trì, chí nhất tâm bất loạn, phương vi văn chư Phật danh, mông chư Phật hộ niệm. Thử cục nghĩa dã.
Thông nghĩa giả, chư Phật từ bi bất khả tư nghị, danh hiệu công đức diệc bất khả tư nghị. Cố nhất văn Phật danh, bất luận hữu tâm vô tâm, nhược tín, nhược phủ, giai thành duyên chủng. Huống Phật độ chúng sanh, bất giản oán thân, hằng vô bì quyện. Cẩu văn Phật danh, Phật tất hộ niệm, hựu hà nghi yên? Nhiên cứ Kim Cang Tam Luận, căn thục Bồ Tát, vi Phật hộ niệm, vị tại Biệt Địa, Viên Trụ. Cái ước tự lực, tất nhập Đồng Sanh Tánh, nãi khả hộ niệm. Kim trượng tha lực, cố Tương Tự Vị, tức mông hộ niệm. Nãi chí Tương Tự Vị dĩ hoàn, diệc giai hữu thông hộ niệm chi nghĩa. Hạ chí nhất văn Phật danh, ư đồng thể pháp tánh, hữu tư phát lực, diệc đắc viễn nhân, chung bất thoái dã.
A Nậu Đa La, thử vân Vô Thượng, Tam Miệu Tam Bồ Đề, thử vân Chánh Đẳng Chánh Giác, tức Đại Thừa quả giác dã. Viên tam Bất Thoái, nãi “nhất sanh thành Phật” dị danh. Cố khuyến Thân Tử đẳng giai đương tín thọ. Văn danh công đức như thử, Thích Ca cập thập phương chư Phật đồng sở tuyên thuyết, khả bất tín hồ?
Sơ khuyến tín lưu thông cánh.
Hỏi: Chỉ nghe danh hiệu chư Phật, nhưng chưa trì kinh thì cũng được hộ niệm, Bất Thoái ư?
Đáp: Điều này có nghĩa hạn cuộc và nghĩa phổ biến. Kinh Chiêm Sát dạy: “Tâm nhơ tạp loạn, tuy tụng niệm danh hiệu ta, vẫn chẳng thể coi là ‘nghe’, vì chẳng thể sanh lòng tin hiểu quyết định, chỉ đạt được quả báo tốt lành trong thế gian, chẳng đạt được lợi ích sâu mầu rộng lớn.
Nếu đạt được Nhất Hạnh tam-muội, sẽ thành cái tâm tu hành rộng lớn vi diệu, gọi là đạt được Tương Tự Vô Sanh Pháp Nhẫn, bèn được coi là đã nghe danh hiệu của mười phương Phật”. Ở đây, cũng nên hiểu giống như vậy. Vì thế, nghe rồi, phải nên chấp trì đến mức nhất tâm bất loạn thì mới là “đã nghe danh hiệu của chư Phật”, được chư Phật hộ niệm. Đấy là nghĩa hạn cuộc.
Nghĩa phổ biến là chư Phật từ bi chẳng thể nghĩ bàn, công đức của danh hiệu cũng chẳng thể nghĩ bàn. Vì thế, vừa nghe danh hiệu Phật, bất luận là hữu tâm hay vô tâm, dù tin hay không, đều tạo thành cái duyên và hạt giống [thành Phật trong A Lại Da Thức]. Huống chi, Phật độ chúng sanh chẳng phân biệt là kẻ oán hay người thân, luôn luôn không mệt mỏi. Nếu nghe danh hiệu Phật, ắt Phật sẽ hộ niệm, há còn đáng nghi gì nữa ư? Nhưng theo Kim Cang Tam Luận, Bồ Tát căn cơ chín muồi, được Phật hộ niệm thì địa vị thuộc Sơ Địa trong Biệt Giáo hoặc Sơ Trụ trong Viên Giáo. Bởi lẽ, luận theo phía tự lực thì phải thuộc địa vị Đồng Sanh Tánh mới được [chư Phật] hộ niệm. Nay cậy vào tha lực, nên thuộc vào địa vị Tương Tự liền được Phật hộ niệm, cho đến từ địa vị Tương Tự trở xuống cũng đều có ý nghĩa “cùng được chư Phật hộ niệm”. Thậm chí vừa nghe danh hiệu Phật thì đã có sức giúp cho đồng thể pháp tánh được phát khởi, cũng trở thành cái nhân xa, trọn chẳng bị lui sụt.
A Nậu Đa La cõi này dịch là Vô Thượng, Tam Miệu Tam Bồ Đề cõi này dịch là Chánh Đẳng Chánh Giác, tức là quả giác Đại Thừa vậy. “Trọn vẹn ba thứ Bất Thoái” chính là tên khác của “thành Phật ngay trong một đời”. Vì thế, đức Phật khuyên các vị như Thân Tử (Xá Lợi Phất) đều nên tin nhận. Phật Thích Ca và mười phương chư Phật cùng tuyên nói công đức nghe danh hiệu như thế, há chẳng đáng tin ư?
Tiểu đoạn thứ nhất [trong phần Lưu Thông] là Khuyến Tín Lưu Thông đã xong.
Hựu, nguyện giả, tín chi khoán, hạnh chi xu, vưu vi yếu vụ. Cử nguyện, tắc tín hạnh tại kỳ trung. Sở dĩ ân cần tam khuyến dã.
Phục thứ, nguyện sanh bỉ quốc, tắc hân yếm nhị môn, yếm ly Sa Bà, dữ y Khổ Tập nhị đế, sở phát nhị chủng hoằng thệ tương ứng. Hân cầu Cực Lạc, dữ y Đạo Diệt nhị đế, sở phát nhị chủng hoằng thệ tương ứng. Cố đắc bất thoái chuyển ư đại Bồ Đề đạo.
Vấn: Kim phát nguyện, đản khả vân đương sanh, hà danh kim sanh?
Đáp: Thử diệc nhị nghĩa.
- Nhất ước nhất kỳ danh “kim”, hiện sanh phát nguyện trì danh, lâm chung định sanh Tịnh Độ.
- Nhị ước sát-na danh “kim”, nhất niệm tương ứng, nhất niệm sanh. Niệm niệm tương ứng, niệm niệm sanh. Diệu nhân, diệu quả, bất ly nhất tâm. Như xứng lưỡng đầu, đê ngang thời đẳng, hà sĩ Sa Bà báo tận, phương dục trân trì? Chỉ kim tín nguyện trì danh, liên ngạc quang vinh, kim đài ảnh hiện, tiện phi Sa Bà giới nội nhân hỹ. Cực viên, cực đốn, nan nghị, nan tư. Duy hữu đại trí, phương năng đế tín.
Hơn nữa, nguyện là bằng khoán của lòng tin, là mấu chốt của hạnh, có vai trò quan trọng nhất. Nêu ra nguyện thì tín và hạnh đều nằm trong ấy. Do vậy, Phật ân cần ba lượt khuyên nhủ.
Lại nữa, nguyện sanh về cõi ấy chính là hai môn Ưa Thích và Chán Lìa. Chán lìa Sa Bà, tương ứng với hai thứ hoằng thệ do nương theo Khổ Đế và Tập Đế mà phát ra. Ưa cầu Cực Lạc, tương ứng với hai thứ hoằng thệ do nương theo Đạo Đế và Diệt Đế mà phát ra. Vì thế, đạt được Chẳng Thoái Chuyển nơi đại Bồ Đề đạo.
Hỏi: Nay phát nguyện thì chỉ có thể nói là “sẽ sanh”, sao lại bảo là “nay sanh”?
Đáp: Điều này cũng có hai nghĩa:
- Một là dựa trên cùng một kỳ hạn mà bảo là “nay”. Đời này phát nguyện trì danh thì lâm chung nhất định sanh về Tịnh Độ.
- Hai là dựa theo sát-na mà gọi là “nay”. Một niệm tương ứng thì sanh vào cõi kia trong một niệm ấy, niệm niệm tương ứng thì trong từng niệm đều sanh. Diệu nhân, diệu quả, chẳng lìa nhất tâm. Như hai đầu cái cân, hễ đầu này chúc xuống thì đầu kia nâng lên cùng một lúc, cần gì phải đợi đến khi hết báo thân nơi Sa Bà mới sanh trong ao báu. Chỉ cần nay tín nguyện trì danh thì [nơi Cực Lạc] hoa sen rạng ngời, đài vàng hiện bóng, tức là đã không còn là người trong cõi Sa Bà nữa! Cực viên, cực đốn, khó nghĩ, khó suy, chỉ có bậc đại trí mới có thể tin tưởng chắc thật mà thôi!
前劝信流通是诸佛付嘱, 此本师付嘱. 嘱语略别从通, 但云一切世间, 犹前诸佛所云汝等众生. 当知文殊, 迦叶等, 皆在所嘱也.
Vị Tịnh Độ chúng sanh thuyết pháp dị, vị trược thế chúng sanh nan.
Vị trược thế chúng sanh thuyết tiệm pháp do dị, thuyết đốn pháp nan.
Vị trược thế chúng sanh thuyết dư đốn pháp do dị, thuyết Tịnh Độ hoành siêu đốn pháp vưu nan.
Vị trược thế chúng sanh, thuyết Tịnh Độ hoành siêu đốn tu đốn chứng diệu quán, dĩ tự bất dị. Thuyết thử vô tạ cù lao tu chứng, đản trì danh hiệu, kính đăng Bất Thoái, kỳ đặc thắng diệu, siêu xuất tư nghị, đệ nhất phương tiện, cánh vi nan trung chi nan.
Cố thập phương chư Phật, vô bất thôi ngã Thích Ca, thiên vi dũng mãnh dã.
Kiếp Trược giả, trược pháp tụ hội chi thời. Kiếp Trược trung, phi đới nghiệp hoành xuất chi hạnh, tất bất năng độ.
Kiến Trược giả, Ngũ Lợi Sử tà kiến tăng thịnh, vị Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ, Giới Thủ, cập chư tà kiến. Hôn muội cốt một, cố danh vi Trược. Kiến Trược trung, phi bất giả phương tiện chi hạnh, tất bất năng độ.
Phiền Não Trược giả, Ngũ Độn Sử phiền hoặc tăng thịnh, vị tham, sân, si, mạn, nghi, phiền động não loạn, cố danh vi Trược. Phiền Não Trược trung, phi tức phàm tâm thị Phật tâm chi hạnh, tất bất năng độ.
Chúng Sanh Trược giả, kiến phiền não, sở cảm thô tệ Ngũ Ấm hòa hợp, giả danh chúng sanh. Sắc, tâm tịnh giai lậu liệt, cố danh vi Trược. Chúng Sanh Trược trung, phi Hân Yếm chi hạnh, tất bất năng độ.
Mạng Trược giả, nhân quả tịnh liệt, thọ mạng đoản xúc, nãi chí bất mãn bách tuế, cố danh vi Trược. Mạng Trược Trung, phi bất phí thời kiếp, bất lao cần khổ chi hạnh, tất bất năng độ.
Phục thứ, chỉ thử tín nguyện, trang nghiêm nhất thanh A Di Đà Phật, chuyển Kiếp Trược vi thanh tịnh hải hội, chuyển Kiến Trược vi vô lượng quang, chuyển Phiền Não Trược vi Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược vi liên hoa hóa sanh, chuyển Mạng Trược vi vô lượng thọ.
Cố, nhất thanh A Di Đà Phật tức Thích Ca Bổn Sư ư ngũ trược ác thế, sở đắc chi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp. Kim dĩ thử quả giác toàn thể, thọ dữ trược ác chúng sanh, nãi chư Phật sở hành cảnh giới, duy Phật dữ Phật năng cứu tận, phi cửu giới tự lực sở năng tín giải dã.
“Chư chúng sanh”, biệt chỉ ngũ trược ác nhân. “Nhất thiết thế gian”, thông chỉ tứ độ khí thế gian, cửu giới hữu tình thế gian dã.
Tiền khuyến tín lưu thông, thị chư Phật phó chúc. Thử Bổn Sư phó chúc, chúc ngữ lược biệt tùng thông, đản vân “nhất thiết thế gian” do tiền chư Phật sở vân “nhữ đẳng chúng sanh”, đương tri Văn Thù, Ca Diếp đẳng, giai tại sở chúc dã.
Vì chúng sanh trong Tịnh Độ thuyết pháp thì dễ, vì chúng sanh đời trược thuyết pháp khó khăn.
Vì chúng sanh đời trược thuyết pháp Tiệm (tu tấn dần dần) còn dễ, nói pháp Đốn sẽ khó.
Vì chúng sanh đời trược nói các pháp Đốn khác còn dễ, nói Đốn pháp Tịnh Độ vượt ngang tam giới rất khó.
Vì chúng sanh đời trược nói diệu quán Tịnh Độ đốn tu đốn chứng vượt ngang tam giới đã chẳng dễ dàng, nói pháp chẳng cần đến tu chứng nhọc nhằn, chỉ trì danh hiệu, mau chóng vượt lên Bất Thoái, kỳ lạ, đặc biệt, thù thắng, nhiệm mầu, vượt khỏi suy nghĩ, phương tiện bậc nhất này càng là điều khó nhất trong những điều khó.
Vì thế, mười phương chư Phật không một vị nào chẳng suy tôn đức Thích Ca của chúng ta là bậc đặc biệt dũng mãnh.
Kiếp Trược là lúc các pháp nhơ bẩn tụ hội. Trong thuở Kiếp Trược, nếu chẳng có hạnh “mang theo nghiệp vượt thoát theo chiều ngang”, ắt chẳng thể độ được.
Kiến Trược là năm thứ Lợi Sử tà kiến tăng trưởng mạnh mẽ, tức là Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Thủ Kiến, và các tà kiến. Tối tăm, chìm đắm, nên gọi là Trược. Trong thời Kiến Trược, nếu chẳng cậy vào hạnh phương tiện, ắt chẳng thể độ được.
Phiền Não Trược là năm thứ Độn Sử phiền não mê hoặc tăng trưởng mạnh mẽ, tức là tham, sân, si, mạn, nghi gây phiền não, rối loạn, nên gọi là Trược. Trong thuở Phiền Não Trược, nếu không dùng hạnh “tâm phàm chính là tâm Phật”, ắt chẳng thể độ được.
Chúng Sanh Trược là do Kiến Hoặc, cảm vời Ngũ Ấm thô tệ hòa hợp, giả gọi là chúng sanh. Sắc lẫn tâm đều thô lậu, hèn kém, nên gọi là Trược. Trong thuở Chúng Sanh Trược, nếu không do hạnh Ưa Thích và Chán Lìa, ắt chẳng thể độ được.
Mạng Trược là nhân và quả đều kém cỏi, tuổi thọ ngắn ngủi, thậm chí chẳng đầy trăm tuổi, nên gọi là Trược. Trong thuở Mạng Trược, mà chẳng dùng hạnh “chẳng tốn kiếp số, chẳng cần phải nhọc nhằn tu tập”, ắt chẳng thể độ được.
Lại nữa, chỉ dùng tín nguyện này để trang nghiêm, niệm một tiếng A Di Đà Phật, sẽ chuyển Kiếp Trược thành hải hội thanh tịnh, chuyển Kiến Trược thành vô lượng quang, chuyển Phiền Não Trược thành Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược thành hóa sanh trong hoa sen, chuyển Mạng Trược thành vô lượng thọ.
Vì thế, một câu A Di Đà Phật chính là pháp mà đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã dùng để đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác trong đời ác ngũ trược. Nay Ngài đem toàn thể sự giác ngộ nơi Phật quả truyền cho chúng sanh trong đời trược ác. Đấy chính là cảnh giới thực hành của chư Phật, chỉ có Phật với Phật mới hòng thấu suốt cùng tận, chứ chúng sanh trong chín pháp giới cậy vào tự lực sẽ chẳng thể tin hiểu được.
Chữ “chư chúng sanh” chỉ riêng những kẻ ác trong đời ngũ trược. Chữ “nhất thiết thế gian” chỉ chung thế giới vật chất trong bốn cõi và hữu tình chúng sanh trong chín pháp giới.
Đoạn Khuyến Tín Lưu Thông trong phần trước là lời dặn bảo của chư Phật. Trong đoạn này là đức Bổn Sư dặn bảo. Trong lời dặn bảo riêng này, chỉ nói đại lược, nhưng ý nghĩa vẫn giống như trong phần dặn bảo chung [của mười phương chư Phật]. Trong phần trước, chư Phật đã nói “chúng sanh các ngươi”, cho nên biết Văn Thù, Ca Diếp, v.v... đều thuộc trong số những người được đức Phật căn dặn.
浊, 烽 烰 宅里, 戏论纷然. 唯深知其甚难, 方肯死尽偷心, 宝此一行. 此本师所以极口说其难甚, 而深嘱我等当知也. 初普劝竟.
Nhiên ngô nhân xử Kiếp Trược trung, quyết định vị thời sở hữu, vị khổ sở bức, xử Kiến Trược trung, quyết định vị tà trí sở triền, tà sư sở hoặc.
Xử Phiền Não Trược trung, quyết định vị tham dục sở hãm, ác nghiệp sở thích.
Xử Chúng Sanh Trược Trung, quyết định an ư xú uế, nhi bất năng đỗng giác, cam ư liệt nhược, nhi bất năng phấn phi.
Xử Mạng Trược trung, quyết định vị vô thường sở thốn, thạch hỏa, điện quang, thố thủ bất cập.
Nhược bất thâm tri kỳ thậm nan, tương vị cánh hữu biệt pháp khả xuất ngũ trược, bồng bột trạch lý, hý luận phân nhiên. Duy thâm tri kỳ thậm nan, phương khẳng tử tận thâu tâm, bảo thử nhất hạnh.
Thử Bổn Sư sở dĩ cực khẩu, thuyết kỳ nan thậm, nhi thâm chúc ngã đẳng đương tri dã.
Sơ phổ khuyến cánh.
Nhưng chúng ta sống trong Kiếp Trược, quyết định bị thời đại vây bủa, bị khổ não bức bách.
Sống trong Kiến Trược, chắc chắn bị tà trí trói buộc, bị tà sư mê hoặc.
Sống trong Phiền Não Trược, chắc chắn bị tham dục vây hãm, bị ác nghiệp cắn rứt.
Sống trong Chúng Sanh Trược, chắc chắn ở yên trong cảnh hôi nhơ mà chẳng thấu hiểu, cam lòng kém hèn, chẳng thể phấn chấn mạnh mẽ tiến lên.
Ở trong Mạng Trược, chắc chắn bị vô thường nuốt mất, [mạng người ngắn ngủi] như tia lửa xẹt do đập vào đá, như ánh chớp, trở tay chẳng kịp.
Nếu chẳng biết sâu xa [thoát ly Ngũ Trược] là cực khó, ắt sẽ ngỡ còn có một pháp nào khác để thoát khỏi Ngũ Trược, cứ hý luận rối bời trong ngôi nhà lửa cháy bừng bừng. Chỉ có hiểu sâu xa [thoát ly Ngũ Trược] là rất khó thì mới chịu chết sạch tấm lòng mong ngóng so đo, quý báu một hạnh này.
Đây chính là lý do vì sao đức Bổn Sư cạn hết lời, bảo pháp này rất khó, lại còn tha thiết dặn dò chúng ta phải nên thấu hiểu.
[Đoạn lớn] thứ nhất [trong phần Lưu Thông] là Phổ Khuyến hết.
Thân tâm di duyệt, danh “hoan hỷ”. Hào vô nghi nhị, danh “tín”. Lãnh nạp bất vong, danh “thọ”. Cảm đại ân đức, đầu thân quy mạng, danh “tác lễ”. Y giáo tu trì, nhất vãng bất thoái, danh “nhi khứ”.
Thân tâm vui sướng gọi là “hoan hỷ”. Chẳng nghi ngờ mảy may, gọi là “tín”. Lãnh nhận chẳng quên mất, gọi là “thọ” (nhận). Cảm kích ân đức lớn lao, gieo toàn thân quy mạng, gọi là “tác lễ”. Vâng theo lời dạy tu trì, thẳng tiến chẳng lui sụt, gọi là “nhi khứ”.
经云: 末法亿亿人修行, 罕一得道, 唯依念佛得度. 呜呼! 今正是其时矣. 舍此不思议法门, 其何能淑. 旭出家时, 宗乘自负, 藐视教典. 妄谓持名, 曲为中下. 後因大病, 发意西归. 复研 《 妙宗 》《 圆中 》 二钞, 及云栖 《 疏钞 》 等书, 始知念佛三昧, 实无上宝王, 方肯死心执持名号, 万牛莫挽也. 吾友去病, 久事净业, 欲令此经大旨, 辞不繁而炳着, 请余为述要解. 余欲普与法界有情同生极乐, 理不可却. 举笔于丁亥九月二十有七, 脱稿於十月初五, 凡九日告成. 所愿一句一字, 咸作资粮. 一见一闻, 同阶不退. 信疑皆植道种, 赞谤等归解脱. 仰唯诸佛菩萨摄受证明, 同学友人随喜加被. 西有道人 蕅 益智旭阁笔故跋, 时年四十有九.
Kinh vân: “Mạt pháp ức ức nhân tu hành, hãn nhất đắc đạo. Duy y niệm Phật đắc độ”. Ô hô! Kim chánh thị kỳ thời hỹ! Xả thử bất tư nghị pháp môn, kỳ hà năng thục?
Húc xuất gia thời, tông thừa tự phụ, miểu thị giáo điển, vọng vị trì danh, khúc vi trung hạ. Hậu nhân đại bệnh, phát ý Tây quy. Phục nghiên Diệu Tông, Viên Trung nhị sao, cập Vân Thê Sớ Sao đẳng thư, tri kỳ Niệm Phật tam-muội, thực vô thượng bảo vương, phương khẳng tử tâm, chấp trì danh hiệu, vạn ngưu mạc vãn dã.
Ngô hữu Khứ Bệnh, cửu sự Tịnh nghiệp, dục linh thử kinh đại chỉ, từ bất phiền, nhi bỉnh trước, thỉnh dư vị thuật Yếu Giải. Dư dục phổ dữ pháp giới hữu tình đồng sanh Cực Lạc, lý bất khả khước, cử bút vu Đinh Hợi cửu nguyệt nhị thập hữu thất, thoát cảo ư thập nguyệt sơ ngũ, phàm cửu nhật cáo thành. Sở nguyện nhất cú, nhất tự, hàm tác tư lương, nhất kiến, nhất văn, đồng giai Bất Thoái. Tín nghi giai thực đạo chủng, tán báng đẳng quy giải thoát. Ngưỡng duy chư Phật, Bồ Tát, nhiếp thọ chứng minh, đồng học hữu nhân tùy hỷ gia bị.
Tây Hữu đạo nhân Ngẫu Ích Trí Húc các bút cố bạt, thời niên tứ thập hữu cửu.
Kinh dạy: “Trong đời Mạt Pháp, ức ức người tu hành, hiếm có một ai đắc đạo, chỉ có nương vào pháp Niệm Phật thì mới đắc độ”. Than ôi! Nay đúng nhằm thời ấy vậy. Bỏ pháp môn chẳng thể nghĩ bàn này, thì còn cậy vào đâu để giải thoát cho được?
Húc tôi lúc xuất gia, tự phụ là người thuộc Thiền Tông, coi thường những kinh điển thuộc Giáo môn, nói xằng “phép trì danh là pháp quyền biến nhằm phù hợp căn tánh của những kẻ trung căn và hạ căn”. Về sau, do bệnh ngặt nghèo, mới phát tâm quy Tây. Lại nghiên cứu hai bộ Viên Trung Sao và Diệu Tông Sao, và sách Sớ Sao của ngài Vân Thê, mới biết Niệm Phật tam-muội quả thật là vua báu vô thượng, mới chịu chết sạch tấm lòng mong ngóng, so đo, chấp trì danh hiệu, một vạn con trâu cũng không lôi lại được.
Bạn tôi là ông Khứ Bệnh, tu Tịnh nghiệp đã lâu, muốn cho tông chỉ của kinh này nêu tỏ rạng ngời mà lời lẽ giảng giải đơn giản, xin tôi viết lời giải thích những điểm trọng yếu. Tôi muốn làm cho hữu tình trong khắp pháp giới đều cùng sanh về Cực Lạc, xét theo lý chẳng thể chối từ được, bèn cầm bút viết từ ngày Hai Mươi Bảy tháng Chín năm Đinh Hợi (1647), đến ngày mồng Năm tháng Mười là hoàn thành, tổng cộng viết xong trong chín ngày. Kính mong mỗi một câu, mỗi một chữ đều là tư lương [cho người tu Tịnh nghiệp]. Ai thấy, ai nghe cũng đều đạt lên Bất Thoái. Người tin tưởng hay nghi ngờ, kẻ khen ngợi hay hủy báng đều cùng về giải thoát. Ngưỡng mong chư Phật, Bồ Tát nhiếp thọ, chứng minh, các bạn đồng học tùy hỷ gia bị.